Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

Bản án: 131/2022/DS-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin.

Bà Trần Thị Đổi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 910/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Địa chỉ trụ sở: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Phó Tổng Giám đốc.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Tạ Trung N, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: I C, Phường V Quận C, TP . (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Tạ Trung N đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần K trình bày như sau: Ông Lê Văn Đ ký Hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G để vay số tiền là 920.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất vay 9,5%/năm, áp dụng đối với các Khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng từng lần này. Lãi suất vay sẽ thay đổi trong các trường hợp quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022.

Theo đó, ông Lê Văn Đ ký hợp đồng thế chấp số 134/22/HĐTC-BĐS/1502-12943 ngày 16/9/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BS933240, số vào số cấp GCN: CH00013 do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Lê Văn Đ ngày 27/01/2014 đối với thửa đất số: 1022, tờ bản đô số 13, diện tích 1.303m², loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác, đất tại Ấp A, xã A, huyện Đ, Long An.

Đến hạn trả nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thông báo đến ông Lê Văn Đ nhưng ông Lê Văn Đ không thanh toán nợ đúng hạn nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện ông Lê Văn Đ với yêu cầu tính đến ngày 20/6/2024 là: Ông Lê Văn Đ trả khoản nợ gốc 920.000.000 đồng, lãi trong hạn 99.818.740 đồng, phạt chậm trả lãi 10.625.285 đồng, lãi quá hạn 164.424.164 đồng, tổng cộng là 1.194.868.189 đồng. Ông Lê Văn Đ phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022 được ký giữa ông Lê Văn Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Lê Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiên vốn, tiền lãi và tiền phạt chậm trả lãi thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên bán đấu giá tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 134/22/HĐTC-BĐS/1502-12943 ngày 16/9/2022 là thửa đất số: 1022, tờ bản đô số 13, diện tích 1.303m², loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác, đất tại ấp A, xã A, huyện Đ, Long An và trích các nguồn thu nhập khác để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

Bị đơn ông Lê Văn Đ trình bày theo bản tự khai ngày 29/3/2024 như sau: Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K về tiền gốc và tiền lãi nhưng hiện nay ông đang gặp khó khăn nên xin trả dần trong thời gian 04 tháng và ông xin vắng mặt phiên xét xử của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Văn Đ, ông Lê Văn Đ hiện có hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Tạ Trung N là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và ông Lê Văn Đ xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022 được ký giữa ông Lê Văn Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G, hai bên thỏa thuận là Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G cho ông Lê Văn Đ vay số tiền là 920.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất vay 9,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm. Ông Lê Văn Đ vi phạm thời hạn trả nợ nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần K yêu cầu ông Lê Văn Đ trả khoản nợ gốc 920.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 20/6/2024 là: lãi trong hạn 99.818.740 đồng, phạt chậm trả lãi 10.625.285 đồng, lãi quá hạn 164.424.164 đồng, tổng cộng là 1.194.868.189 đồng. Ông Lê Văn Đ đồng ý trả số tiền 1.194.868.189 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K, nhưng ông Lê Văn Đ trình bày gia đình đang gặp khó khăn nên xin Ngân hàng Thương mại Cổ phần K cho trả dần trong thời gian 04 tháng.

[2.1] Xét thấy, các khoản lãi suất các bên đã thỏa thuận phù hợp với các quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/02/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với phạt chậm trả lãi phù hợp với thỏa thuận tại mục 3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết. Ông Lê Văn Đ thống nhất với số tiền còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K là 1.194.868.189 đồng nên đây là tình tiết sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Ông Lê Văn Đ trình bày gia đình đang gặp khó khăn nên xin Ngân hàng Thương mại Cổ phần K cho trả dần trong thời gian 04 tháng nhưng người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét. Áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K buộc ông Lê Văn Đ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K tổng số tiền 1.194.868.189 đồng khi án có hiệu lực.

[2.3] Ông Lê Văn Đ phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022 được ký giữa ông Lê Văn Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K là phù hợp với Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[2.4] Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lê Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 134/22/HĐTC-BĐS/1502-12943 ngày 16/9/2022 là thửa đất số: 1022, tờ bản đô số 13, diện tích 1.303m², loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác, đất tại ấp A, xã A, huyện Đ, Long An để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Văn Đ. Trường hợp tài sản thế chấp của ông Lê Văn Đ không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì ông Lê Văn Đ phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

[3] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1;

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K do ông Nguyễn Tạ Trung N đại diện theo ủy quyền về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Lê Văn Đ.

    Buộc ông Lê Văn Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền nợ gốc 920.000.000 đồng, lãi trong hạn 99.818.740 đồng, phạt chậm trả lãi 10.625.285 đồng, lãi quá hạn 164.424.164 đồng, tổng cộng là 1.194.868.189 đồng (Một tỷ một trăm chín mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi tám ngàn một trăm tám mươi chín đồng).

    Ông Lê Văn Đ phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần số 134/22/HĐTD/1502-12943 ngày 16/9/2022 được ký giữa ông Lê Văn Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ.

    Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lê Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 134/22/HĐTC-BĐS/1502-12943 ngày 16/9/2022 là thửa đất số: 1022, tờ bản đô số 13, diện tích 1.303m², loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác, đất tại ấp A, xã A, huyện Đ, Long An để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Văn Đ. Trường hợp tài sản thế chấp của ông Lê Văn Đ không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì ông Lê Văn Đ phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.

  2. Về án phí: ông Lê Văn Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền 21.269.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005253 ngày 10/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
  3. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND huyện Đức Hòa;
  • -TAND tỉnh Long An;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2022/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 131/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger