Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/DS-PT

Ngày: 08/11/2024.

V/v: Tranh chấp ngõ đi chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Long.

Bà Lê Thị Tố Như.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 68/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ngõ đi chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 74/2024/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hà T, sinh năm 1964. Vắng mặt.

Nơi cư trú: SN A H, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Hà Vũ H, sinh năm 1989. Có mặt.

Nơi cư trú: SN H P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn:

  1. Ông Vũ Mỹ L, sinh năm 1962 và bà Cao Thị T1, sinh năm 1964. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1981 và bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1982. Anh Nguyễn Hồng Q vắng mặt, chị Đoàn Thị T2 có mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Lô G, Mặt bằng D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Ông Lê Minh T3, sinh năm 1977 và bà Trương Thị G, sinh năm 1980. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Ông Trần Phúc Đ, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1950. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Ông Lê Hồng C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Thu O, sinh năm 1965. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  6. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1942 (chết ngày 01/8/2024).

    Địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N:

    • Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1964 (con đẻ bà N). Vắng mặt.

    • Bà Vũ Thị T5, sinh năm 1966 (con đẻ bà N). Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    • Ông Vũ Mạnh T6, sinh năm 1969 (con đẻ bà N). Vắng mặt.

    Địa chỉ: S T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng.

    • Ông Vũ Mạnh T7, sinh năm 1973 (con đẻ bà N). Vắng mặt.

    Địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958. Vắng mặt.

    Địa chỉ: SN A P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Ông Trần Văn N2, sinh năm 1985. Vắng mặt.

    Địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1990 và chị Vũ Tuyết M, sinh năm 1988. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Anh Nguyễn Quý S, sinh năm 1988 và chị Bùi Thị H2, sinh năm 1988. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Ông Đoàn Văn T8, sinh năm 1966. Vắng mặt.

    Địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Bà Lê Thị Phương T9, sinh năm 1974. Vắng mặt.

    Địa chỉ: S P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Ông Hà Nguyên B, sinh năm 1958. Vắng mặt.

    Địa chỉ: A đường B, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Bà Hà Thị Thanh H3, sinh năm 1962. Vắng mặt.

    Địa chỉ: 8 Lô B, chung cư T, Khu phố E, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Ông Hà N3, sinh năm 1964. Vắng mặt.

    Địa chỉ: 7 đường F, Phường L, thành Phố Hồ Chí Minh.

  • Ông Hà Lâm M1, sinh năm 1959. Vắng mặt.

    Địa chỉ: SN H P, Phường T, thành Phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1968. Vắng mặt.

    Địa chỉ: SN H P, Phường T, thành Phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Anh Hoàng Hà Tuấn D, sinh năm 1999. Vắng mặt.

  • Chị Hoàng Thị Quỳnh A, sinh năm 2003. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Số E đường T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

  • UBND thành phố T. Vắng mặt.

    Địa chỉ : Đại Lộ N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh C1 - Chủ tịch;

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thái L1 - Chuyên viên phòng T14 - UBND Thành phố T.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Mỹ L, anh Nguyễn Hồng Q, ông Trần Phúc Đ, ông Lê Hồng C, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1, ông Trần Văn N2, anh Trần Văn Đ1, ông Đoàn Văn T8, bà Lê Thị Phương T9, Bà Bùi Thị H2: bà Đoàn Thị T2 và ông Lê Minh T3 (Theo giấy ủy quyền ngày 21/5/2024 và 23/5/2024).

Người đại diện tham gia tố tụng cho ông Hà Nguyên B, bà Hà Thị Thanh H3, ông Hà N3, ông Hà Lâm M1, ông Hoàng Văn K, anh Hoàng Hà Tuấn D, chị Hoàng Thị Quỳnh A: ông Hà T (Theo văn bản thỏa thuận cử người quản lý di sản và thực hiện quyền của chủ sử dụng đất ngày 30/12/2022 là ông Hà T và người đại diện theo ủy quyền của ông Hà T là anh Hà Vũ H, theo hợp đồng ủy quyền ngày 30/12/2022).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Hà Vũ H trình bày:

Ông bà nội anh là cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2, sinh được 06 người con gồm: ông Hà Nguyên B, bà Hà Thị Thanh H3, ông Hà N3, ông Hà T, ông Hà Lâm M1 (bố anh) và bà Hà Thị N4 (đã chết). Bà Hà Thị N4 có chồng là ông Hoàng Văn K và 02 con là anh Hoàng Hà Tuấn D, chị Hoàng Thị Quỳnh A.

Cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2 (đều đã chết) có để lại di sản là diện tích đất tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 20, diện tích 433m², địa chỉ H P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; đã được UBND Thành phố T cấp Giấy7 chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BX446529 ngày 24/11/2014 mang tên cụ Lê Thị Cẩm . Thửa đất có chiều rộng là 7,5m, chiều dài như trong GCNQSD đất.

Nguồn gốc đất là của cha ông để lại. Khoảng năm 2003, gia đình cụ C2, cụ T10 có chia đất cho các con, nhưng các con của cụ T10 và cụ C2 ở phía sau không có đường đi ra đường chính Phan Bội C3. Vì thế, năm 2003 gia đình cụ C2 có sang nói chuyện với các hộ dân trong ngõ G P, phường T, thành phố T, cụ thể là nhà ông Đ và nhà bà N. để cho các con đi chung với lối đi chung của ngõ 78, nhưng các hộ dân trong ngõ không đồng ý. Do đó, gia đình cụ C2 khi xây nhà phải để lại một phần diện tích đất của gia đình tiếp giáp với diện tích đất ngõ đi chung 78 để làm lối đi riêng cho các con, có chiều rộng khoảng 1m, chiều dài theo chiều dài diện tích đất trong GCNQSDĐ.

Sau đó, các hộ dân trong ngõ góp tiền xây bức tường ngăn cách giữa lối đi của các con cụ C2 với diện tích ngõ đi 78, làm cho lối đi của các con cụ C2 rất nhỏ, việc đi lại rất khó khăn. Nhưng sau đó, bức tường đã bị phá đi thì diện tích đất lối đi của nhà các con cụ C2 mới gộp vào diện tích đất lối đi chung của ngõ G, nên mới có diện tích ngõ rộng như hiện nay. Tuy bức tường ngăn giữa lối đi của gia đình cụ C2 với ngõ 78 không còn, nhưng vẫn còn 2 cây cột điện chôn ở giữa.

Về diện tích ngôi nhà của gia đình cụ C2 xây trước đây (nay đã tháo dỡ để chuẩn bị xây nhà mới) thì tại tầng 1 gia đình cụ C2 đã xây lùi vào khoảng 1m để trừ làm lối đi cho các con ở diện tích đất phía sau, còn tầng 2 xây đua lan can ra theo đúng đủ diện tích ghi trong GCNQSDĐ được Nhà nước cấp, theo đúng như bản ảnh mà phía bị đơn giao nộp.

Sau một thời gian, những người con của cụ C2, cụ T10 ở diện tích đất phía sau đi vào miền nam sinh sống với con cháu, nên giao toàn bộ diện tích đất ở số nhà H P cho anh quản lý vào năm 2021 (Trước đây cụ C2 chia đất cho các con chỉ nói miệng chứ chưa làm thủ tục cấp GCNQSDĐ). Đến cuối năm 2022, gia đình anh thống nhất để anh phá nhà cũ, xây dựng lại nhà mới trên diện tích đất ông bà anh để lại tại địa chỉ SN H P, phường T, thành phố T và không cần để lại lối đi cho các hộ phía sau như trước đây nữa. Do vậy, gia đình anh có nguyện vọng lấy lại phần đất trước đây đã để làm lối đi cho các con cụ C2 phía sau mà hiện nay đang chung với diện tích đất ngõ đi chung của các hộ dân trong ngõ G P để xây nhà. Toàn bộ chiều rộng đất mặt tiền của SN 80 Phan Bội Châu theo GCNQSDĐ có mặt tiền là 7,5m, hiện nay ông Hà T là chú ruột của anh đã xây nhà, mặt tiền là 3,17m, nên chiều rộng mặt tiền còn lại là 4,33m.

Sau khi cụ T10, cụ C2 chết thì các đồng thừa kế của cụ T10 và cụ C2 đã có văn bản ngày 30/12/2022 thỏa thuận cử người quản lý di sản và thực hiện quyền của chủ sử dụng đất cho ông Hà T. Trong văn bản có nội dung “cử ông Hà T là người đại diện quản lý di sản, thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất nêu trên, được quyền nộp đơn khởi kiện, tham gia tố tụng trong vụ án và có quyền ủy quyền lại cho người thứ 3”.

Ngày 21/3/2023 ông Hà T nộp đơn khởi kiện và ủy cho anh là Hà Vũ H tham gia tố tụng trong vụ án.

Nay anh Hà Vũ H đề nghị Tòa án giải quyết cho gia đình anh được lấy lại diện tích đất trước đây gia đình anh để ra làm lối đi cho các con cụ C2 ở phía sau hiện đang chung với diện tích ngõ đi 78 P, có chiều rộng phía đường P là 1,22m, chiều dài theo chiều dài diện tích đất trong GCNQSDĐ, theo kết quả xem xét thẩm định được thể hiện trong trích đo hiện trạng thửa đất ngày 27/7/2023.

Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn trình bày:

- Ông Trần Phúc Đ trình bày: Ông là người sinh ra và lớn lên tại ngõ G P, toàn bộ các hộ gia đình trong ngõ G đều mua lại đất từ thời cha ông ông để lại, ông là người đã chia nhỏ mảnh đất ra để bán, nhưng cụ thể bán vào năm nào thì ông không nhớ rõ. Do bán cho các nhà ở phía trong, nên ông mới dành một lối đi chung là 3,10m phía bên ngoài giáp đường P và phía trong cùng là 3,16m cho các nhà phía trong có đường đi lại. Năm 2003 thì gia đình con cụ C2 làm nhà phía trong cho các con, do không có đường đi thì mới làm cửa đi sang ngõ G P, nhưng các hộ trong ngõ không đồng ý. Do vậy, nhà cụ C2 mới để lại khoảng 70cm đất chiều rộng để làm đường đi cho các con ở phía sau. Sau đó, các hộ dân trong ngõ 78 đã góp tiền xây một bức tường ngăn cách giữa diện tích đất ngõ đi chung 78 với lối đi của các con cụ C2. Khoảng 01 tháng sau thì phường T xuống giải quyết và đội trật tự phường T đã phá dỡ bức tường ngăn cách, lúc đó diện tích đất lối đi của các con cụ C2 mới gộp chung với diện tích lối đi chung của ngõ G, ông không nhớ chính xác vào năm nào. Phần lan can đua ra ở tầng 2 nhà cụ C2 là đua ra hết lối đi riêng của nhà cụ C2. Cây cột điện được Nhà nước dựng lên vào khoảng năm 2003, 2004 sau khi phá bức tường ngăn ngõ. Đề đảm bảo an toàn, nên cây cột điện được dựng cách phần lan can đua ra của nhà cụ C2 khoảng 40cm.

* Ông Lê Minh T3 trình bày: Ông mua đất về ngõ G P ở năm 2007, khi đó ngõ đã được hình thành và sử dụng như hiện trạng hiện nay, tính từ tường nhà cụ C2 đến tường bên phía đối diện là 3,10m, phía trong là 3,16m. Do thấy ngõ rộng và ông mua nhà về ở với giá đất có ngõ rộng như thế. Ông có nghe kể lại về việc tranh chấp đất trước đây giữa gia đình cụ C2 với các hộ dân ngõ 78 và đã được chính quyền xuống giải quyết, nhưng từ khi ông về đó ở đến nay thì không thấy có vấn đề gì. Khi biết được nhà cụ C2 được cấp GCNQSDĐ như thế thì ông không đồng ý, vì khi cấp GCNQSDĐ cho nhà cụ C2 các hộ dân trong ngõ không được biết. Lịch sử tranh chấp như thế nào ông không rõ, nhưng từ khi ông về ở đến nay thì ngõ đã sử dụng ổn định như thế. Ngày 20/4/2022, các hộ dân trong ngõ có mời chính quyền địa phương và anh H xuống làm việc trước khi anh H phá dỡ nhà cũ.Tuy nhiên, nhà anh H không có mặt, còn chính quyền địa phương thì chỉ có cán bộ địa chính phường T có mặt, nhưng không ký biên bản làm việc và nói biên bản là do các hộ dân tự lập thì các hộ dân tự ký.

* Ý kiến của ông Lê Hồng C: Năm 2003 ông mua đất và xây nhà sinh sống ở ngõ G P. Khi ông về ở hiện trạng ngõ đi đã như hiện nay. Khi đó, không còn bức tường ngăn cách chỉ còn một lối đi chung phía ngoài là 3,1m, phía trong là 3,16m còn tranh chấp trước đó như thế nào thì ông không rõ. Nay anh H xây nhà mà muốn lấy 1m đất của ngõ đi chung xây nhà thì ông không đồng ý. Việc nhà cụ C2 được cấp GCNQSDĐ thì ông không được biết, nhưng đề nghị giữ nguyên diện tích ngõ đi như hiện nay.

Nếu gia đình cụ C2 trước đây có để lại 70cm chiều rộng để làm lối đi cho các con của nhà cụ C2. Nay nếu anh H muốn xây dựng thì anh H chỉ được lấy lại 70cm đất của ngõ đi để xây dựng nhà mới.

* Ý kiến của bà Nguyễn Thị N: Bà về ngõ G P ở từ năm 1976 đến nay, lúc đó đã có ngõ đi chung của ngõ G, còn nhà cụ C2 đi ngõ khác. Đến năm 2003 con cụ C2 làm nhà và muốn đi chung vào ngõ G, lúc đó ngõ rộng bao nhiêu thì bà không rõ, nhưng xe ô tô có thể đi vào được. Khi con cụ C2 muốn đục tường để đi sang ngõ G thì do ngõ hẹp mà người phía trong đông nên các hộ dân trong ngõ không đồng ý. Sau đó nhà cụ C2 đã để lại khoảng 70cm đất chiều rộng để làm lối đi cho con nhà cụ C2, nên người dân trong ngõ mới góp tiền để xây bức tường ngăn cách giữa ngõ đi chung và ngõ đi của nhà cụ C2. Sau đó, UBND phường T xuống giải quyết phá dỡ bức tường ngăn cách, lúc đó mới gộp diện tích đất lối đi nhà cụ C2 và lối đi chung thành một ngõ. Nhà nước dựng cột điện khi bức tường ngăn cách đang còn, cột điện được dựng sát vào bức tường ngăn, hơi chắn ngõ đi của nhà cụ C2. Nay bà không đồng ý về việc anh H làm nhà lấn ra ngõ 1m. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Lối đi 70cm nhà cụ C2 đã nói là hiến cho lối đi chung nhưng chỉ nói miệng chứ không có giấy tờ gì.

Việc anh H có ý định xây dựng công trình mới theo GCNQSDĐ của gia đình cụ C2 được cấp ngày 24/11/2014 là sẽ lấn ra ngõ đi chung, vì vậy bà và các hộ dân trong ngõ 78 không đồng ý. Khi nhà cụ C2 được cấp GCNQSDĐ năm 2014, các hộ gia đình trong ngõ G không được biết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án xem xét giữ nguyên hiện trạng ngõ đi chung của các hộ dân ngõ 78 như hiện nay là chiều rộng phía bên ngoài (phía vỉa hè phố P) là 3,10m, bên trong góc cuối là 3,16m để đảm bảo công tác an sinh, phòng cháy chữa cháy cho các hộ gia đình trong ngõ G P.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố T trình bày:

Thửa đất của cụ Lê Thị C2 có tên trong hồ sơ địa chính 299 phê duyệt năm 1985 thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3, diện tích 470m², loại đất T, sổ mục kê ghi tên Hà T10 (chồng cụ Lê Thị C2) và ngõ đi chung số 78 P được thể hiện giữa thửa số 534 của cụ Lê Thị C2 với thửa số 537.

Tại hồ sơ địa chính 364 phê duyệt năm 1994 thì thửa đất này thuộc thửa 168, tờ bản đồ số 18, diện thích 429m², loại đất T, sổ mục kê ghi tên Hà T10 (chồng cụ Lê Thị C2) và ngõ đi chung số 78 P được thể hiện giữa thửa số 168 của cụ Lê Thị C2 với thửa số 129.

Theo bản đồ đo vẽ năm 2011: Thửa đất của gia đình cụ Lê Thị C2 đang sử dụng thuộc thửa số 10, tờ số 21, diện tích 415m², loại đất ONT, sổ mục kê ghi tên Lê Thị C2, ngõ đi chung số 78 P được thể hiện giữa thửa số 10 của cụ Lê Thị C2 với thửa số 14.

Năm 2014, hộ cụ Lê Thị C2 đề nghị cấp GCNQSDĐ, ngày 24/11/2014 UBND Thành phố T đã cấp GCNQSDĐ cho cụ Lê Thị C2, diện tích đất 433m² tại SN H P, phường T., thành phố T. Kích thước thửa đất theo đúng trích đo địa chính thửa đất năm 2014 do UBND phường T lập có chữ ký giáp gianh của các hộ gia đình, biên bản xác định gianh giới, mốc giới thửa đất có chữ ký của T11 phố Phan Bội C3. Trong hồ sơ thể hiện kích thước ngõ đi chung số 78 P có chiều rộng 1,8m và 2,2m.

Theo xác nhận của UBND phường T tại hồ sơ cấp GCNQSDĐ năm 2014 cho cụ Lê Thị C2 tại SN H P, phường T, thành phố T: Thửa đất của cụ Lê Thị C2 là đất thổ cư lâu đời do cha ông để lại, thời điểm sử dụng vào mục đích đất ở là trước ngày 18/12/1980 được thể hiện tại đơn xin xác nhận thời gian và nguồn gốc sử dụng đất ngày 20/8/2014 được UBND phường T xác nhận ngày 10/10/2014.

Tại thời điểm lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, hồ sơ đã được UBND phường T niêm yết công khai 30 ngày (từ ngày 10/9/2014 đến ngày 10/10/2014) theo quy định pháp luật, trong thời gian niêm yết không có khiếu nại, tranh chấp gì, gia đình cụ C2 sử dụng ổn định từ trước đến nay, UBND phường T đã xác nhận là đất thổ cư lâu đời do cho ông để lại. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 100; Điều 99; Điều 103 Luật đất đai năm 2013, UBND thành phố T cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2 là đúng quy định của pháp luật.

Trên hồ sơ địa chính các thời kỳ chỉ thể hiện thông số về số hiệu thửa đất và diện tích thửa đất, không thể hiện kích thước các cạnh, ngõ đi và đường, chỉ thể hiện tên ngõ, tên đường, không thể hiện chiều rộng các ngõ và đường phố. Ngõ G P cũng chỉ ghi tên ngõ đi chung, không ghi kích thước chiều rộng và chiều dài của ngõ. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật (BL 262).

Ngoài ra, các hộ dân trong ngõ G P có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án với nội dung sau:

Từ năm 2003 đến nay, ngõ G P được hình thành và ổn định, tại vị trí cạnh lô đất số 80 P của hộ ông Hà T, ngõ có chiều rộng bên ngoài là 3,10m, bên trong từ góc cuối nhà là 3,16m. Lối đi lại của các hộ dân từ năm 2003 là ổn định, không có tranh chấp, được chính quyền địa phương, ban cán sự phố, nhân dân trong phố qua các thời kỳ đều biết. Trước ngày 20/4/2022 hộ bà Lê Thị Cẩm P dỡ nhà 02 tầng đã xây dựng trước năm 2003 để xây dựng nhà mới, có ý định lấn chiếm ngõ đi chung 78. Trong lúc đang tháo dỡ thì các hộ dân trong ngõ tổ chức cuộc họp để xác định lại diện tích ngõ đi chung và mời cán bộ địa chính phường cùng đại diện gia đình cụ C2 là ông Hà Vũ H tham gia, nhưng ông H vắng mặt. Sau khi họp, các hộ gia đình thống nhất lập biên bản xác định hiện trạng ngõ 78 trước khi tháo dỡ, nhưng cán bộ địa chính không ký. Năm 2014 UBND thành phố T cấp giấy GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2, nhưng các hộ dân trong ngõ 78 không được biết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về lối đi của mình. Nay các hộ dân trong ngõ 78 đề nghị Tòa án xem xét diện tích ngõ đi chung 78 P vẫn được giữ nguyên hiện trạng và đã cố định từ năm 2003 đến nay, có chiều rộng bên ngoài 3,10m, bên trong từ cuối góc nhà số G là 3,16m để đảm bảo công tác an sinh.

* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/7/2023 của TAND thành phố Thanh Hóa thể hiện: diện tích đất hiện nay gia đình các con cụ Hà T10 và Lê Thị C2 đang quản lý, sử dụng tại SN 80 P, phường T, thành phố T, sau khi trừ đi phần diện tích trước đây gia đình cụ C2 để ra làm lối đi chung với ngõ 78 là 401,4m² (420,6m² - 19,2m²), có chiều rộng mặt đường P là 6,27m (có trích đo hiện trạng kèm theo).

- Diện tích đất đang tranh chấp tại ngõ G P:

Về hiện trạng: trên đất có 01 cây cột điện giáp ranh giữa ngõ G và gia đình hộ cụ Lê Thị C2; phía Đông giáp đường hiện trạng Phan Bội C3, phía Tây giáp hộ ông Lê Hồng Q1 (SN 01B/78 + hộ cụ Lê Thị C2), phía Nam giáp đất hộ bà C2, phía Bắc giáp ngõ đi chung.

- Định giá đất: giá đất theo giá thị trường là 75.000.000đ/m².

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 4; Điều 17; Khoản 2 Điều 26; Điều 166; Điều 203 Luật đất đai. Khoản 2 Điều 26; Khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn .

Các đồng thừa kế của cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2 gồm: ông Hà Nguyên B, bà Hà Thị Thanh H3, ông Hà N3, ông Hà T, ông Hà Lâm M1, ông Hoàng Văn K, anh Hoàng Hà Tuấn D và Chị Hoàng Thị Quỳnh A được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất trước đây gia đình cụ Lê Thị Cẩm T12 làm lối đi chung là 19,2m² đất (diện tích đất này hiện đang gộp chung cùng diện tích đất của ngõ đi chung 78 P), cụ thể: Về phía đường P, lấy từ mép tường nhà cũ trước đây của gia đình cụ Lê Thị C2 hoặc lấy từ mép tường SN 76 Phan Bội Châu kéo về phía ngõ đi chung số 78 là 3,02m là mốc 1 (M), kéo về phía ngõ đi chung số 78 là 1,22m là mốc 2 (M2), sau đó kéo theo chiều dài của ngõ là 16,66m là mốc 3 (M3) và kéo tiếp 1,88m là mốc 4 (M4) và sau đó kéo về mốc 5 (M5) là 0,57m (Phần diện tích đất này được thể hiện phần đất (2) trong sơ đồ kèm theo bản án).

Do ông Hà T là người được các đồng thừa kế cử đại diện nhận, nên ông Hà T được đại diện nhận lại 19,2m² đất nêu trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 03/7/2024 bà Đoàn Thị T2 kháng cáo với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bà Đoàn Thị T2 không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Ý kiến đại diện VKS tỉnh T tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị T2 làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị T2, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (có bài phát biểu kèm theo).

- Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị T2 làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Đoàn Thị T2:

Về việc GCNQSDĐ cấp cho hộ bà Lê Thị C2 tăng lên 18m², việc cấp GCNQSDĐ chưa xác định được phần diện tích tăng này do đâu, chưa làm rõ nguồn gốc và chưa lấy ý kiến khu dân cư, nên không đúng quy định của pháp luật:

HĐXX xét thấy, về nguồn gốc: Diện tích đất của gia đình cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2 tại SN H P, phường T, thành phố T là đất thổ cư lâu đời do cha ông để lại, thời điểm sử dụng vào mục đích đất ở là trước ngày 18/12/1980, có tên trong hồ sơ địa chính 299 phê duyệt năm 1985 thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3, diện tích 470m², loại đất T, sổ mục kê ghi tên Hà T10 (chồng cụ Lê Thị C2) và ngõ đi chung số 78 P được thể hiện giữa thửa số 534 của cụ Lê Thị C2 với thửa số 537. Năm 2003 gia đình cụ Lê Thị C2 xây nhà đã có trừ ra một phần đất làm lối đi cho các con (nguyên đơn, bị đơn và người liên quan đều thống nhất có việc trừ đất này), nên tại thời điểm cấp GCNQSDĐ năm 2014 thì phần diện tích đất gia đình cụ Lê Thị Cẩm T12 làm lối đi cho các con đang gộp chung với diện tích đất ngõ đi chung 78 Phan Bội C3, nên không nằm trong diện tích đất thực tế gia đình cụ Lê Thị C2 đang quản lý, sử dụng. Do đó, bản đồ trích đo sử dụng đất thực tế trên địa bàn phường T năm 2011 ghi thửa đất của gia đình cụ Lê Thị C2 hiện đang sử dụng có diện tích đất nhỏ hơn diện tích thửa đất gốc của gia đình cụ C2 là phù hợp với thực tế. Mặt khác, diện tích đất ghi trong GCNQSDĐ cấp cho hộ cụ Lê Thị Cẩm N5 hơn diện tích của thửa đất ghi trong trích đo bản đồ 299 nên UBND Thành phố T không cấp thừa diện tích đất cho gia đình cụ Lê Thị Cẩm . Ngoài ra, tại thời điểm lập hồ sơ cấp GCNQSD đất, hồ sơ đã được UBND phường T niêm yết công khai theo quy định pháp luật, trong thời gian niêm yết không có ai khiếu nại, tranh chấp gì. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thủ tục đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân thì không quy định hàng xóm ký giáp ranh là thủ tục bắt buộc khi cấp GCNQSDĐ. Việc ký giáp ranh chỉ là cách phổ biến và để xác định có hay không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề. Hơn nữa, các hộ dân tại ngõ G P không phải là người sử dụng đất liền kề với hộ cụ Lê Thị C2 nên hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ cụ C2 không bắt buộc phải có chữ ký của các hộ dân ngõ G P. Vì vậy, việc cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2 là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Đoàn Thị T2.

- Về kích thước chiều rộng ngõ đi chung số 78 P: bà T2 kháng cáo cho rằng theo hồ sơ địa chính qua từng thời kỳ có sự thay đổi; đồng thời các hộ dân ngõ 78 đã thống nhất đo vẽ xác định chiều rộng ngõ G P là 3,1m phía ngoài mặt đường P và 3,6m ở phía trong cùng. Diện tích đất ngõ như các hộ dân ngõ 78 xác định như trên đã có sự thỏa thuận của gia đình cụ C2.

HĐXX xét thấy, về diện tích ngõ đi chung số 78 P: Tuy trong hồ sơ vụ án có một số văn bản là trích sao bản đồ 299; 1994; 2011 có ghi kích thước cụ thể chiều rộng của ngõ đi chung viết bằng bút (viết tay), nhưng đây là bản pho to không có cơ sở pháp lý để xem xét. Tại các văn bản có dấu đỏ của UBND thành phố T cung cấp và ý kiến tại văn bản trình bày ngày 08/4/2024 (BL 188-192 và 262) đều thể hiện các bản đồ địa chính qua các thời kỳ đều không ghi kích thước chiều rộng ngõ đi chung số 78 P là bao nhiêu. Nhưng đến năm 2014, tại các tài liệu trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ và trong GCNQSDĐ cấp cho hộ cụ Lê Thị C2 có thể hiện kích thước ngõ đi chung số 78 có chiều rộng phía ngoài đường P là 1,8m và phía trong là 2,2m. Mặt khác, theo số liệu bà T2 đã nêu và thực tế ngõ đi chung số 78 P trước đây có diện tích đất nhỏ hơn hiện nay, chỉ từ năm 2003 khi gia đình cụ Lê Thị C2 dành một phần đất để làm lối đi ra đường P cho các con trong gia đình cụ C2 ở phía sau thửa đất và từ khi UBND phường T tiến hành phá dỡ bức tường ngăn cách giữa lối đi chung ngõ 78 với lối đi chung của các con cụ C2 thì ngõ đi chung mới rộng như hiện nay (chiều rộng phía ngoài giáp đường P là 3,1m, phía trong là 3,16m). Sau khi phá bức tường thì các con cụ C2 và người dân ngõ 78 Phan Bội C3 cùng được sử dụng lối đi chung rộng hơn, nên ổn định từ đó đến nay, chứng tỏ nếu không có một phần đất lối đi chung của các con cụ C2 gộp vào phần diện tích đất ngõ đi chung năm 2003 thì diện tích ngõ đi chung không thể có chiều rộng như hiện nay. Đồng thời, các đương sự đều thừa nhận việc cụ C2 để 01 phần đất giáp ngõ 78 để làm lối đi cho các con, trong vụ án này không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện gia đình cụ Lê Thị Cẩm H4 đất cho Nhà nước làm ngõ đi chung. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của hộ cụ Lê Thị C2 như GCNQSDĐ đã được cấp năm 2014 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Đoàn Thị T2 về việc xác định diện tích ngõ đi chung số 78 có chiều rộng mặt đường P là 3,1m, chiều rộng phía trong cùng là 3,6m.

- Về nội dung kháng cáo cho rằng hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2 không thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục quy định.

Như đã phân tích trên, UBND thành phố T cấp GCNQSDĐ cho gia đình cụ Lê Thị C2 ngày 24/11/2014 đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 20, diện tích 433m², địa chỉ: SN H P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng quy định pháp luật. Tại thời điểm lập hồ sơ cấp GCNQSD đất, hồ sơ đã được UBND phường T niêm yết công khai theo quy định pháp luật, trong thời gian niêm yết không có ai khiếu nại, tranh chấp gì. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thủ tục đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân thì không quy định hàng xóm ký giáp ranh là thủ tục bắt buộc khi cấp GCNQSDĐ. Việc ký giáp ranh chỉ là cách phổ biến và để xác định có hay không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề. Hơn nữa, các hộ dân tại ngõ G P không phải là người sử dụng đất liền kề với hộ cụ Lê Thị C2 nên hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ cụ C2 không bắt buộc phải có chữ ký của các hộ dân ngõ G P. Do đó, việc cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2 là đúng quy định pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Đoàn Thị T2.

- Về nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc chưa thu thập Giấy phép xây dựng của gia đình cụ Lê Thị C2 năm 2003 để làm rõ căn cứ xác định ranh giới, mốc giới, ý kiến của cụ C2 để làm căn cứ giải quyết vụ án và không tiến hành giám định chữ ký của các hộ dân ngõ 78 P trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Lê Thị C2:

HĐXX xét thấy, Giấy phép xây dựng không phải là căn cứ để xác định ranh giới, mốc giới trong việc giải quyết tranh chấp đất đai. Trong vụ án này, có cơ sở khẳng định GCNQSDĐ cấp cho hộ cụ Lê Thị C2 là đúng quy định của pháp luật, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại giai đoạn phúc thẩm bị đơn không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh gia đình cụ C2 đã hiến phần đất đang tranh chấp để nhập vào thành ngõ đi chung số 78 P, do đó đây chính là căn cứ để giải quyết vụ án. Ngoài ra, như đã phân tích trên, theo quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thủ tục đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân thì không quy định hàng xóm ký giáp ranh là thủ tục bắt buộc khi cấp GCNQSDĐ. Việc ký giáp ranh chỉ là cách phổ biến và để xác định có hay không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề. Hơn nữa, các hộ dân tại ngõ G P không phải là người sử dụng đất liền kề với hộ cụ Lê Thị C2 nên hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ cụ C2 không bắt buộc phải có chữ ký của các hộ dân ngõ G P. Do đó, cấp sơ thẩm không thu thập Giấy phép xây dựng, không trưng cầu giám định chữ ký của các hộ dân ngõ 78 trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ C2 là có cơ sở. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Đoàn Thị T2.

- Về nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người con của cụ Lê Thị C2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Tòa án đã ban hành Thông báo số 13/TB-TA ngày 10/4/2014 về việc đưa các đồng thừa kế của cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2 gồm: ông Hà Nguyên B, bà Hà Thị Thanh H3, ông Hà N3, ông Hà Lâm M1, ông Hoàng Văn K, anh Hoàng Hà Tuấn D và chị Hoàng Thị Quỳnh A vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng những người này đều đã có văn bản gửi cho Tòa án với nội dung: “ Họ đã được ông Hà T thông báo cho họ biết về việc ông Hà T khởi kiện vụ án và họ cũng đã nhận được thông báo số 13/ TB-TA ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, nhưng do họ đã có văn bản thỏa thuận cử ông Hà T là người đại diện quản lý di sản và thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất, đồng thời có quyền khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật và ông Hà T có quyền ủy quyền lại cho người khác”. Nay ông Hà T đã ủy quyền lại cho anh Hà Vũ H tham gia tố tụng, nên ý kiến của anh Hà Vũ H trong quá trình giải quyết vụ án cũng là ý kiến của họ và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế không bị ảnh hưởng vì đã có người đại diện tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà Đoàn Thị T2.

- Về nội dung kháng cáo phía Bắc ngõ đi tiếp giáp với SN 76, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chủ sử dụng nhà đất số G P vào tham gia tố tụng:

HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của anh Lê Trọng T13 (trước đây là chủ nhà số G P), anh T13 cho biết: gia đình anh mua căn nhà số G P từ năm 1997, năm 2007 gia đình anh xây nhà mới ở đến năm 2014 thì chuyển đi nơi khác, hiện không còn sinh sống tại SN 76 P nữa. Trước đây, khi sinh sống tại SN 76, gia đình anh không lấn chiếm sang diện tích ngõ đi chung số 78 và cũng không có tranh chấp gì với ai. Năm 2003 anh có biết việc gia đình cụ C2 để ra 01 phần đất tiếp giáp ngõ 78 để làm lối đi cho các con ở phía sau, diện tích bao nhiêu thì anh không nắm rõ, anh chỉ biết diện tích đất ngõ G P hiện tại có 01 phần đất của gia đình cụ C2 đã để ra cho các con làm lối đi. Nay các bên có tranh chấp thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, việc các bên có tranh chấp không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của gia đình anh. Xét thấy, từ năm 2014 đến nay gia đình anh T13 không còn sinh sống ở S1, anh T13 khẳng định việc tranh chấp giữa các bên không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình anh. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh T13 vào tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình anh T13. Do đó, không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà Đoàn Thị T2.

Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Đoàn Thị T2.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: bà Đoàn Thị T2 phải nộp án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị T2.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 4; Điều 17; Khoản 2 Điều 26; Điều 166; Điều 203 Luật đất đai. Khoản 2 Điều 26; Khoản 2 Điều 27; Khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn .

Các đồng thừa kế của cụ Hà T10 và cụ Lê Thị C2 gồm: ông Hà Nguyên B, bà Hà Thị Thanh H3, ông Hà N3, ông Hà T, ông Hà Lâm M1, ông Hoàng Văn K, anh Hoàng Hà Tuấn D và Chị Hoàng Thị Quỳnh A được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất trước đây gia đình cụ Lê Thị Cẩm T12 làm lối đi chung là 19,2m² đất (diện tích đất này hiện đang gộp chung cùng diện tích đất của ngõ đi chung 78 P), cụ thể: Về phía đường P, lấy từ mép tường nhà cũ trước đây của gia đình cụ Lê Thị C2 hoặc lấy từ mép tường SN 76 Phan Bội Châu kéo về phía ngõ đi chung số 78 là 3,02m là mốc 1 (M), kéo về phía ngõ đi chung số 78 là 1,22m là mốc 2 (M2), sau đó kéo theo chiều dài của ngõ là 16,66m là mốc 3 (M3) và kéo tiếp 1,88m là mốc 4 (M4) và sau đó kéo về mốc 5 (M5) là 0,57m (Phần diện tích đất này được thể hiện phần đất (2) trong sơ đồ kèm theo bản án).

Do ông Hà T là người được các đồng thừa kế cử đại diện nhận, nên ông Hà T được đại diện nhận lại 19,2m² đất nêu trên.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: bà Đoàn Thị T2 phải nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0001714 ngày 11/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Bà T2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Long

Nguyễn Thu Hà

Lê Thị Tố Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/DS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp ngõ đi chung

  • Số bản án: 131/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ngõ đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ngõ đi chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger