Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 131/2024/DS-PT

Ngày: 04 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp

Ông Nguyễn Văn Thư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Quang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 tháng 6 và 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2024/TLPT-DS ngày 26/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Phước Long bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2024/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 41/2024/QĐPT-DS, ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1974 và ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1976 (đều có mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Trà N, sinh năm 1988 và ông Trần Mạnh H, sinh năm 1983 (đều vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố G, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: D N, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Thanh L2 bị đơn bà Phan Thị Trà N2 Trần Mạnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1, trình bày:

Giữa ông L1, bà L4 ông Trần Mạnh H1 bà Phan Thị Trà N3 mối quan hệ quen biết, mua bán hạt điều với nhau. Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2022 thì vợ chồng ông H, bà N4 hiện nhiều giao dịch mua điều và vay tiền của ông bà. Tuy nhiên, các khoản nợ từ việc mua hạt điều cũng như nợ từ giao dịch vay khác đã thanh toán xong nên không tranh chấp. Riêng đối với số tiền vay nợ 9.100.000.000 đồng thì vợ chồng ông H, bà N5 trả mặc dù đã đến hạn, cụ thể như sau:

  • Ngày 13/7/2021, vay 1.500.000.000 đồng, thời hạn trả là 15 ngày;
  • Ngày 12/8/2021, vay 1.100.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả;
  • Ngày 18/9/2021, vay 1.000.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả;
  • Ngày 23/5/2022, vay 5.500.000.000 đồng, hẹn sẽ trả trong 02 ngày.

Các lần vay này đều có viết giấy vay tiền và có ký tên xác nhận và trong đó có 02 giấy vay mượn ngày 18/9/2021 và ngày 23/5/2022 có đóng dấu công ty TNHH MTV S

Lý do vợ chồng bà N6 ông Hvi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông L1, bà L5 kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Phước Long giải quyết buộc ông H, bà N7 trả số tiền nợ gốc 9.100.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất là 20%/năm, tính từ ngày vay tiền cho mỗi khoản vay.

Khoản nợ bà N6 ông H2 là với tư cách cá nhân bà N và ông H3 có liên quan đến Công ty TNHH MTV S1 do đóng dấu Công ty vào giấy nợ là nhằm mục đích để làm tin.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn T L1và bà Nguyễn Thị Kim L6 yêu cầu đối với yêu cầu buộc bị đơn bà Phan Thị Trà N8 ông Nguyễn T L1trả tiền lãi theo mức 20%/năm trên số nợ gốc 9.100.000.000 đồng.

Qua trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Mạnh H4 Phan Thị Trà N9 bà Trần Thị N10 bày:

Bà N1xác nhận bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H5 vay ông Nguyễn T L1và bà Nguyễn Thị Kim L7 tiền 9.100.000.000 đồng như nguyên đơn bà L, ông L1trình bày. Đồng thời, thừa nhận số nợ trên không liên quan đến Công ty TNHH MTV S2 thừa nhận ngoài các khoản nợ vay 9.100.000.000 đồng mà nguyên đơn bà L, ông L1khởi kiện ông H, bà N11 vay của bà L, ông L1các khoản vay khác cũng như có việc ông L1, bà L8 ra bảo lãnh cho vợ chồng bà N, ông H2 tiền nhiều lần của bà Nguyễn Thị H6 (Hoa Thống) và thừa nhận giữa hai bên còn thực hiện các giao dịch mua bán hạt điều, vợ chồng bà N, ông H7 điều của bà L, ông L9 ra, bà N1 còn thừa nhận các tài liệu xác nhận nợ tại số mua bán điều do nguyên đơn cung cấp là chữ ký và chữ viết của bà N

Tuy nhiên, các khoản vay nợ khác cũng như khoản nợ từ giao dịch mua bán điều bà Nông H8 thanh toán đủ cho nguyên đơn bà L, ông L10 đối với khoản nợ 9.100.000.000 đồng mà nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn phải trả thì phía bị đơn

bà N8 ông H8 trả đủ. Thậm chí còn trả dư số tiền hơn 14.000.000.000 đồng. Do đó, ông Hbà N12 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L1bà L

Bị đơn ông H, bà N12 có đơn yêu cầu phản tố đối với số tiền ông bà cho rằng đã trả dư cho nguyên đơn ông L1và bà L

- Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Thân Văn T1 bày:

Ngày 31/3/2022, vợ chồng ông L1bà Lvay của ông số tiền 1.500.000.000 đồng, ông nghe ông L1bà Lnói là để cho vợ chồng NHvay lại và bà L11 nhờ ông chuyển từ tài khoản của ông sang số tài khoản 9190191239999 của bà N13 Ngân hàng Msố tiền 1.500.000.000 đồng. Số tiền này ông L1bà Lđã trả cho ông.

- Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Nguyễn Thị H9 bày:

Trong thời gian khoảng 2021 và 2022, vợ chồng bà L3 ông L1có bảo lãnh cho vợ chồng bà N, ông H2 03 lần tiền khoảng 9.000.000.000 nhưng bà H1không nhớ cụ thể, mục đích vợ chồng bà N, ông H2 là để đáo hạn Ngân hàng. Việc trả tiền thông qua vợ chồng ông L1, bà L - tức là vợ chồng ông H, bà N14 tiền trả nợ sang cho bà L, ông L1 sau đó bà L, ông L1trả cho bà H6; khi ông L1, bà L3 bà N, ông H10 hiện xong nghĩa vụ vụ trả nợ cho bà H1thì bà H1trả giấy xác nhận nợ của vợ chồng bà N, ông H11 với bà H1lại cho bà L, ông L12 khoản tiền bà N14 khoản cho bà L13 12/10/2022 và khoản trả lãi ngày 13/10/2022 có nội dung “Phan Thị Trà N15 khoản trả nợ chị L14 L2để trả nợ cho chị H6“ là khoản tiền mà vợ chồng bà N, ông H12 để trả nợ cho các khoản vay mà bà N, ông H2 của bà do vợ chồng bà L, ông L2bảo lãnh.

- Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Lê Minh H13 bày:

Ngày 25/5/2022, bà Phan Thị Trà N3 nhờ ông chuyển trả nợ cho nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L7 tiền 2.893.000.000 đồng. Ông hoàn toàn không biết đấy là số tiền thanh toán vào giao dịch nào giữa bà N, ông H14 ông L15, bà L

- Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Phan Thị L16 bày:

Ngày 04/4/2023, bà Phan Thị Trà N3 nhờ bà L3đi trả nợ dùm cho bà Nguyễn Thị Kim L7 tiền 1.100.000.000 đồng, sau đó bà L11 viết giấy xác nhận đã nhận tiền. Bà không biết số tiền 1.100.000.000 đồng này được thanh toán cho giao dịch nào.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L17 bị đơn bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1 số tiền nợ gốc 6.100.000.000 đồng (Sáu tỷ một trăm triệu đồng).

2. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1 buộc bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H trả số tiền lãi.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi

hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2024 bị đơn bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L3 ông L1; ngày 05/02/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Hbà N16 cho bà L18 L19.100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiền đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Các giao dịch chuyển khoản sao kê có ghi “Phan Thi T2 N2chuyen khoan” là 13.845.000.000 đồng nhưng không ghi cụ thể nội dung chuyển khoản là gì, ngoài ra các bên đương sự còn có thỏa thuận mua bán điều, bảo lãnh vay tiền, do đó bị đơn cho rằng chuyển khoản trả nợ cho nguyên đơn là không phù hợp; chỉ có khoản tiền 1.900.000.000 đồng là có ghi nội dung cụ thể “Phan Thi T2 N2chuyen khoan tra no” và 1.100.000.000 đồng tiền mặt bà N2nhờ bà L3trả cho bà L19 ghi giấy trả tiền nên cấp sơ thẩm chấp nhận 3.000.000.000 đồng cho bị đơn và 6.100.000.000 đồng cho nguyên đơn là có căn cứ. Ngoài ra, các bên xác định còn có các khoản tiền khác, phiên tòa phúc thẩm đã tạm ngừng để đối chất nhưng bị đơn không hợp tác nên không có cơ sở xem xét cho bị đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo nguyên đơn Nguyễn Thị Kim LNguyễn Thanh L1và kháng cáo của bị đơn P, nhận thấy:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự Nguyễn Thị Kim LNguyễn Thanh L Thị Trà Nvà T thống nhất có quan hệ bạn bè và mua bán hạt điều với nhau từ trước, cũng như ông Hbà N17 vay của bà L18 L19.100.000.000 đồng như ông L1bà Ltrình bày, số tiền vay mượn là giữa bà L18 L1với bà Nông H15

có liên quan đến Công ty TNHH MTV S. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả đủ số tiền 9.100.000.000 đồng theo các giấy vay tiền ngày 13/7/2021 (vay 1,5 tỷ), 12/8/2021 (vay 1,1 tỷ), 18/9/2021 (vay 1 tỷ) và 23/5/2022 (vay 5,5 tỷ); ngoài ra nguyên đơn cung cấp nội dung tin nhắn giữa bà L4 bà N18 lưu giữ trong điện thoại di động của bà L(được Văn phòng T2lập vi bằng số 155/2023/VB-TPL ngày 23/6/2023), các phiếu cân điều, sổ ghi số liệu mua bán điều giữa hai bên để chứng minh trong khi bị đơn vay tiền thì giữa hai bên vẫn tiến hành các giao dịch mua bán điều và số tiền bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn qua các tài khoản ngân hàng đứng tên N24 L1là tiền mua bán điều, tiền trả nợ các khoản tiền nguyên đơn đã xé bỏ giấy nợ. Ngược lại, bị đơn xác định đã trả tiền vay cho nguyên đơn bằng việc chuyển khoản trả nợ cho nguyên đơn, cụ thể số tiền chuyển khoản qua các tài khoản của chồng và con bà L20 28.100.000.288 đồng, trong khi ngoài tiền vay 9.100.000.000 đồng vay thì bà L21 chuyển khoản cho bà N19 đồng, như vậy bà N20 chuyển khoản cho bà L22 hơn số tiền bà L11 chuyển khoản cho bà N21 đồng, có nghĩa là bà N20 chuyển khoản trả số tiền vay 9.100.000.000 đồng cho bà Lthậm c nhiều hơn số tiền đã vay.

Theo bảng kê tiền mua điều của bà N22 bà L23 thì trong khoảng thời gian từ ngày 27/5/2021 đến 25/02/2023 bà N20 mua của bà L24 cộng 18.605.624.315 đồng, số tiền này được bà N16 qua hai hình thức là chuyển khoản và tiền mặt nên bà L25 định đến thời điểm tranh chấp, giữa bà L3 bà N20 giải quyết xong tiền mua bán hạt điều, chỉ yêu cầu Toà án buộc bà Nông H16 số tiền mặt đã vay là 9.100.000.000 đồng.

Bị đơn cho rằng đã trả hết tiền cho nguyên đơn nhưng chỉ cung cấp chứng cứ là bảng sao kê việc chuyển khoản trả tiền giữa bị đơn với nguyên đơn (thông qua các tài khoản của chồng và con bà L26 không xem xét, giải thích số tiền điều bà N20 mua của bà L20 không toàn diện. Bị đơn cho rằng đã chuyển khoản trả nợ cho nguyên đơn nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh cho phần trình bày của mình, cụ thể là những nội dung chuyển khoản không ghi trả nợ mà chỉ ghi chung chung, trong khi nguyên đơn không thừa nhận và cho rằng khi bị đơn trả nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn đã xé bỏ giấy nợ cũng như gạch bỏ số tiền nợ mua bán hạt điều, còn các giấy nợ chưa trả thì nguyên đơn chưa xé hoặc chưa trả cho bị đơn nên phần trình bày của bị đơn không được chấp nhận.

Trong bảng sao kê tài khoản của nguyên đơn và bị đơn cho thấy một số khoản tiền bị đơn bà N23 rõ nội dung, cụ thể trong tổng số tiền chuyển khoản có 06 khoản với số tiền 1.900.000.000 đồng (ngày 30/6/2022 chuyển khoản 200.000.000 đồng; ngày 14/7/2022 chuyển khoản 100.000.000 đồng và ngày 08/9/2022 chuyển khoản 4 lần là 1.600.000.000 đồng) với nội dung “Phan Thị Trà N15 khoản trả nợ” hoặc “Phan Thị Trà N15 khoản tiền mượn chị L27 L5 hoặc “Phan Thị Trà N15 trả nợ chị L14 L2và lời khai người làm chứng Phan Thị L3cho thấy số tiền 1.100.000.000 đồng do bà L3trả tiền mặt cho bà L5ngày 04/4/2023 để lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đưa cho bà L5làm

tin khi vay tiền nên có ghi nội dung trả nợ, nguyên đơn cho rằng trả nợ cho các khoản nợ khác nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh nên cũng không được chấp nhận.

Tại cấp phúc thẩm, Tlán tiếp tục tạm ngừng phiên tòa cho các đương sự đối chất để làm rõ nội dung từng khoản tiền chuyển khoản, việc giao nhận hạt điều, số tiền mua bán hạt điều và việc thanh toán tiền hàng giữa các bên nhưng vợ chồng bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H17 đến tham gia theo triệu tập của Tòa án cho thấy ông Hbà N12 thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho sự phản đối của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp bản trình bày ý kiến về việc các khoản sao kê chi tiết từng chuyển khoản cũng không chứng minh, làm rõ được những nội dung Hội đồng xét xử yêu cầu nên không có căn cứ chấp nhận.

Như vậy, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Lvà Nguyễn Thanh L28 cầu bị đơn bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H18 số tiền vay 9.100.000.000 đồng theo các giấy vay tiền ngày 13/7/2021, 12/8/2021, 18/9/2021 và 23/5/2022; bị đơn chỉ có chứng cứ chứng minh trả được số tiền 3.000.000.000 đồng nên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn kháng cáo yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng các bên đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận. Do đó, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông L1bà Lbà Nvà ông H17 được chấp nhận nên các ông bà phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim LNguyễn T3 L1và bị đơn Phan Thị Trà NTrần M,

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Căn cứ các Điều 280, 463, 466, 470 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phía Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1,

Buộc bị đơn bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1 số tiền 6.100.000.000 đồng (Sáu tỷ một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Phan Thị Trà N8 ông Trần Mạnh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003019 ngày 29 tháng 01 năm 2024.

- Bà Nguyễn Thị Kim Kim L3 ông Nguyễn Thanh L1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003029 ngày 05 tháng 02 năm 2024.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND thị xã Phước Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Văn Nhum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 131/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger