Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HS-ST
Ngày: 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lâm.

2. Bà Nguyễn Thị Bẩy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Đắc H, sinh ngày 04/3/1987 tại Bắc Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đắc H1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Hoàng Thị H2, sinh năm 1986; có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Tuấn A - Luật sư thuộc Công ty L; địa chỉ: số B N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Đắc C; sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Đức C1; sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đào Thị H3; sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: số nhà D N, đường V, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  2. Ông Trần Đình Đ; sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1966; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Bà Trần Thị P; sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT: chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:

Ngày 18/3/2022 và ngày 15/12/2022, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B tiếp nhận đơn của anh Nguyễn Đắc C, sinh năm 1983, nơi ĐKHKTT: khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Đức C1, sinh năm 1990, nơi ĐKHKTT: chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh tố giác Phạm Đắc H, sinh năm 1987, nơi ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh có hành vi chiếm đoạt tài sản của anh C và anh C1 thông qua việc nhận tiền đặt cọc mua đất và góp vốn mua đất.

Đến nay, căn cứ kết quả điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã chứng minh được hành vi phạm tội của Phạm Đắc H, cụ thể như sau:

1. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Đắc C:

Đầu tháng 12/2021, chị Đào Thị H3; sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: số nhà D N đường V, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nhờ H môi giới bán giúp cho chị H3 lô đất No19-10, diện tích 100m2 tại dự án khu nhà ở xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với giá 2.145.000.000 đồng. Nếu bán được lô đất trên chị H3 sẽ chi cho H 20.000.000 đồng tiền công môi giới (lô đất này, trước đó cũng do H giới thiệu để chị H3 mua). Trong thời gian này, H gặp anh Nguyễn Đắc C; sinh năm: 1983; nơi ĐKHKTT: khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đang có nhu cầu tìm mua đất tại dự án khu nhà ở xã D nên H đã giới thiệu cho anh C lô đất trên của chị H3 và dẫn anh C đi xem lô đất. Sau khi xem xét và thỏa thuận, anh C đồng ý mua lô đất No19-10 trên với giá 2.145.000.000 đồng. Sau đó, H sử dụng zalo "Huân P1" gửi đến zalo "Nguyễn Nam C2" của anh C2 hình ảnh 01 tờ phiếu thu tiền có nội dung: Công ty CP P2 (gọi tắt là Công ty P2) thu 666.805.000 đồng của bà Bùi Thị Kim O; sinh năm 1960; nơi ĐKHKTT: khu E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và 01 văn bản thoả thuận về việc Công ty P2 BN bán lô đất No19-10 tại khu nhà ở xã D cho bà O (đều có dấu đỏ của Công ty P2). Đến khoảng 13 giờ ngày 13/12/2021, anh C2 và H hẹn gặp nhau tại quán trà chanh ở D, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, anh C2 đưa cho H 800.000.000 đồng để đặt cọc mua lô đất nêu trên. Khi giao tiền và làm hợp đồng đặt cọc có sự chứng kiến của chị Trần Thị P (là người quen của anh C2); sinh năm 1971; nơi ĐKHKTT: chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và anh Trần Đình Đ (là người quen của H); sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chị P có chụp lại hình ảnh anh C2 giao tiền cho H. H lấy mẫu Hợp đồng đặt cọc và điền vào nội dung: Ngày 13/12/2021, H bán lô đất No-19-10 thuộc khu nhà ở xã D, huyện Y với giá 2.145.000.000 đồng cho anh C2. Anh C2 đặt cọc 800.000.000 đồng. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày 13/12/2021 đến ngày 23/12/2021, khi H nhận đủ tiền cọc sẽ cùng anh C2 làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi thủ tục công chứng hoàn tất, anh C2 phải giao đủ số tiền còn lại cho H. Cuối hợp đồng, H ký điểm chỉ vào mục Đại diện bên A (bên bán); anh C2 ký, điểm chỉ vào mục Đại diện bên B (bên mua); chị P ký, điểm chỉ vào mục Đại diện bên C (làm chứng). Sau khi nhận 800.000.000 đồng tiền đặt cọc của anh C2, H cùng anh Đ đến nhà chị H3, H đưa cho chị H3 100.000.000 đồng để đặt cọc mua lô đất No19-10 (không viết giấy tờ gì). Số tiền còn lại, H nảy sinh ý định mang đi trả nợ cá nhân, khi nào đến hạn chuyển nhượng lô đất trên sẽ đi vay chỗ khác để bù vào. Sau đó, H sử dụng 400.000.000 đồng trả nợ cho bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1966; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và trả nợ cho anh Đ số tiền 300.000.000 đồng để anh Đ trả cho bà T tiền anh Đ nợ bà T từ trước. Bà T đã dùng số tiền này để trả cho người khác vì trước đó bà T vay hộ H.

Gần đến thời hạn theo thoả thuận, anh C2 nhiều lần gọi điện thúc giục H làm thủ tục sang tên đất để anh C2 thanh toán nốt tiền. Ban đầu H nói dối anh C2 đến đúng hẹn H sẽ làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất No19-10 cho anh C2 theo đúng thoả thuận. Tuy nhiên sau đó, H bỏ trốn lên thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang sống với chị Đặng Thùy N, sinh năm 1987 và ngắt mọi liên lạc để không phải trả tiền cho anh C2. Đến ngày 14/12/2022, Cơ quan điều tra đã truy tìm được H và yêu cầu về trụ sở làm việc.

Về phía chị H3, sau nhiều lần nhắn tin yêu cầu H thanh toán tiền để chị H3 làm thủ tục sang tên đất nhưng không thấy H trả lời, ngày 24/12/2021, hết thời hạn đặt cọc, chị H3 đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất này cho chị Nguyễn Thị H4; sinh năm 1985; Nơi ĐKHKTT: tổ D khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Số tiền 100.000.000 đồng đặt cọc cho chị H3, sau đó H nói với chị H3 có một lô đất khác nếu chị H3 muốn đặt cọc thì chuyển cho H 80.000.000 đồng, sau đó chị H3 chuyển cho H 80.000.000 đồng nhưng H không đặt cọc lô đất nào mà sử dụng chi tiêu hết.

Tiến hành xác minh nguồn gốc của lô đất No19-10 tại khu nhà ở xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xác định: dự án khu nhà ở xã D do Công ty TNHH T1; có trụ sở tại: số A tổ D, Trung tâm thương mại Đ1, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm chủ đầu tư và thoả thuận chỉ định Công ty P2 là đơn vị phân phối, môi giới độc quyền tìm kiếm khách hàng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các sản phẩm của dự án. Ngày 19/12/2020, Công ty P2 có văn bản thoả thuận nhận tiền đặt cọc mua lô đất No19-10 thuộc dự án trên với bà Bùi Thị Kim O; sinh năm 1960; nơi ĐKHKTT: khu E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với số tiền chuyển nhượng dự kiến là 701.900.0000 đồng; bà O đã đặt trước số tiền 666.805.000 đồng (tương đương 95% giá trị lô đất) cho Công ty. Đến ngày 30/11/2021, bà O đến Công ty đề nghị chuyển nhượng lại lô đất trên cho chị Đào Thị H3, sinh năm 1983 có địa chỉ như trên. Công ty P2 đã làm thủ tục thu hồi văn bản thoả thuận kèm phiếu thu của bà O và chuyển tên sang cho chị H3. Ngày 24/12/2021, chị H3 đề nghị Công ty chuyển nhượng lại lô đất trên cho chị Nguyễn Thị H4; sinh năm 1985 có địa chỉ trên, Công ty P2 đã làm thủ tục chuyển tên sang chị H4.

* Về tài liệu đã thu giữ:

  • Tạm giữ của anh Nguyễn Đắc C 01 Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 (bản gốc); 01 phiếu thu đứng tên người nộp tiền là Bùi Thị Kim O đề ngày 19/12/2020; 01 văn bản thoả thuận dự án nhà ở xã D số No19-10/2020/VBTT đề ngày 19/12/2020 (đều là bản phô tô) và 02 trang A4 có hình ảnh thể hiện việc giao nhận tiền giữa anh C với H.
  • Thu giữ mẫu vân tay, chữ ký, chữ viết của chị P, anh C; mẫu chữ viết của H do Cơ quan điều tra Công an huyện T cung cấp; thu giữ mẫu vân tay của H trên mẫu chỉ bản CMND do Phòng PC06 Công an tỉnh B cung cấp để tiến hành giám định.

* Kết quả giám định: Tại kết luận giám định số 1118/KL-KTHS ngày 20/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận):

  • Chữ viết tại phần nội dung trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với chữ viết của Phạm Đắc H trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết ra;
  • Chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Đắc H dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với chữ ký, chữ viết của Phạm Đắc H trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra;
  • Chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Thị P dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN C” trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra;
  • Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Đắc C dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Đắc C trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra;
  • Dấu vân tay màu đỏ bên phải chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Đắc H trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với dấu vân tay in tại ô ngón trỏ phải của Phạm Đắc H là của cùng một người;
  • Dấu vân tay màu đỏ bên phải chữ ký, chữ viết dứng tên Trần Thị P trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 so với dấu vân tay in tại ô ngón trỏ phải của Trần Thị P là của cùng một người.
  • Dấu vân tay màu đỏ bên phải chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Đắc C trên Hợp đồng đặt cọc để ngày 13/12/2021 so với dấu vân tay in tại ô ngón trỏ phải của Nguyễn Đắc C là của cùng một người.

* Liên quan trong vụ án có việc anh Trần Đình Đ là người đã đi cùng H đến nhận tiền đặt cọc mua đất của anh C, cùng H đến nhà chị H3 để H đặt cọc tiền mua đất của chị H3 và sau đó đến nhà bà T để H trả 400.000.000 đồng cho bà T và được H trả nợ 300.000.000 đồng để trả cho bà T. Tuy nhiên, anh Đ không biết việc H nhận đặt cọc của anh C để bán lô đất nào và chuyển tiền đặt cọc cho chị H3 để mua lô đất nào, không biết việc H không trả tiền để hoàn thiện thủ tục sang tên đất cho anh C. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Đ là phù hợp.

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Đức C1:

Giữa H và anh Nguyễn Đức C1 có quan hệ quen biết nhau do trước đó anh C1 đã có lần góp tiền mua chung đất với H và bán có lãi. Đầu tháng 10/2021, do cần tiền chi tiêu cá nhân và biết anh C1 có nhu cầu đầu tư đất tại dự án khu đô thị M, B, huyện V, tỉnh Bắc Giang, H nói dối anh C1 có 03 lô đất LK 11-09; LK 11-10 và LK 13-16 giá tốt tại dự án này, muốn đầu tư thì đặt cọc 100.000.000 đồng/01 lô, sau đó bán lướt sóng sẽ có lãi. Tin tưởng H nói thật, anh C1 đồng ý. Ngày 19/10/2021, anh C1 chuyển khoản đến tài khoản V số [...] của H số tiền 300.000.000 đồng để góp với H đặt cọc mua 03 lô đất trên. Sau khi nhận được tiền của anh C1, H đã rút toàn bộ ra tiền mặt và sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến hẹn, không thấy H nói gì về việc bán 03 lô đất trên, anh C1 có hỏi thì H nói dối anh C1 là H đã đặt cọc đất, sau H bán lướt có lãi và sẽ trả cho anh C1 tiền gốc cùng 30 triệu tiền lãi. Ngày 05/12/2021, sau nhiều lần nhắn tin, gọi điện đòi tiền, H chuyển khoản trả cho anh C1 số tiền 100.000.000 đồng. Đến cuối tháng 12/2021, Huân ngắt mọi liên lạc với anh C1. Số tiền 200.000.000 đồng còn lại H chiếm đoạt không trả lại cho anh C1.

* Kết quả xác minh tại Công ty CP X (gọi tắt là Công ty X) có trụ sở tại: thôn T, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội xác định: Công ty X là chủ đầu tư của dự án khu đô thị M, B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Công ty là đơn vị trực tiếp đứng ra mở bán các sản phẩm (là các lô đất) của dự án từ cuối tháng 11/2021. Công ty không có nhân viên hay khách hàng nào là Phạm Đắc H; cũng không uỷ quyền hoặc giao cho H bán các lô đất thuộc dự án trên.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Đến nay, H chưa bồi thường gì cho anh C và anh C1. Anh C và anh C1 yêu cầu H phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt và đề nghị xử lý H theo quy định của pháp luật.

* Tại Cơ quan điều tra, bị can Phạm Đắc H5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Tại Bản Cáo trạng số: 127/CT-VKS-P2 ngày 29/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Đắc H5 về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Đắc H5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không ý kiến gì về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng truy tố. Bị cáo ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại đều có ý kiến thống nhất với nội dung truy tố của cáo trạng; yêu cầu bị cáo H5 trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, trong đó số tiền chiếm đoạt của anh C là 800.000.000 đồng, anh C1 là 200.000.000 đồng và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở về xã hội để làm ăn kiếm tiền trả nợ cho các bị hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên tòa đều có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, các bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Sau khi đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Đắc H5 phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đắc H5 từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 19 năm đến 20 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Bồi thường cho anh Nguyễn Đắc C 800.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Đức C1 200.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 (bản gốc); 01 phiếu thu đứng tên người nộp tiền là Bùi Thị Kim O đề ngày 19/12/2020; 01 văn bản thoả thuận dự án nhà ở xã D số No19-10/2020/VBTT đề ngày 19/12/2020 (đều là bản phô tô) và 02 trang A4 có hình ảnh thể hiện việc giao nhận tiền giữa anh C với H5 quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là những tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Luật sư Vũ Tuấn A bào chữa cho bị cáo tranh luận: Về tội danh Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó Luật sư cũng đồng tình với đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo phạm tội là do không vay mượn được tiền đưa cho chị H3 chứ không phải có ý thức chiếm đoạt từ đầu, do đó, đề nghị HĐXX xem xét xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội, lao động kiếm tiền trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với Luật sư: Bị cáo phạm 02 tội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo chưa khắc phục được phần thiệt hại nào cho các bị hại; xét tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo chỉ được áp dụng 01 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên không có căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Những người tham gia tố tụng không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:

[3] Ngày 13/12/2021, tại một quán trà chanh ở D, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Đắc H5 đã nhận 800.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua lô đất No19-10 tại khu nhà ở xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh của anh Nguyễn Đắc C; thời hạn đặt cọc từ 13/12/2021 đến 23/12/2021. Sau khi nhận tiền, H5 đưa 100.000.000 đồng để đặt cọc mua lô đất này cho chị Đào Thị H3, số tiền còn lại H5 chiếm đoạt sử dụng trả nợ hết. Khi anh C gọi điện yêu cầu làm thủ tục sang tên đất, H5 đã nói dối anh C sẽ làm thủ tục sang tên đất đúng thời hạn. Tuy nhiên, đến hẹn theo thoả thuận, H5 không có tiền để làm thủ tục sang tên đất cho anh C ngắt mọi liên lạc và bỏ trốn lên xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang sống đến ngày 14/12/2022 Cơ quan điều tra truy tìm được H5 và yêu cầu về trụ sở làm việc.

[4] Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, ngày 19/10/2021, tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, H5 còn đưa ra thông tin gian dối về 03 lô đất, gồm: LK09-10, LK09-11 và LK13-16 tại dự án khu đô thị M, B thuộc huyện V, tỉnh Bắc Giang đang mở bán để anh Nguyễn Đức C1 chuyển khoản 300.000.000 đồng cho H5 góp tiền đặt cọc mua 03 lô đất nêu trên. Sau khi nhận được tiền của anh C1, H5 không sử dụng để đặt cọc mua đất như đã nói mà rút tiền mặt ra chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 05/12/2021, H5 mới trả cho anh C1 số tiền 100.000.000 đồng, còn chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng.

[5] Với các hành vi nêu trên, Phạm Đắc H5 đã phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4, Điều 175 và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo với các tội danh và điều luật như trên là có căn cứ pháp luật.

[6] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, HĐXX thấy: Bị cáo Phạm Đắc H5 đã có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với anh Nguyễn Đắc C với số tiền 800.000.000 đồng và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với anh Nguyễn Đức C1 số tiền 200.000.000 đồng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của các bị hại, gây hoang mang trong xã hội. Khi sự việc bị tố giác, bị cáo không có trách nhiệm bồi thường cho bị hại, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Phạm Đắc H5 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn tỏ thái độ ăn năn hối cải do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Đắc H5 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, xét thấy yêu cầu này là chính đáng nên cần chấp nhận. Buộc bị cáo H5 phải bồi thường cho anh Nguyễn Đắc C 800.000.000 đồng; anh Nguyễn Đức C1 200.000.000 đồng.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 (bản gốc); 01 phiếu thu đứng tên người nộp tiền là Bùi Thị Kim O đề ngày 19/12/2020; 01 văn bản thoả thuận dự án nhà ở xã D số No19-10/2020/VBTT đề ngày 19/12/2020 (đều là bản phô tô) và 02 trang A4 có hình ảnh thể hiện việc giao nhận tiền giữa anh C với H5 quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là những tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Về các vấn đề liên quan trong vụ án:

  • Anh Trần Đình Đ là người đã đi cùng H5 đến nhận tiền đặt cọc mua đất của anh C, cùng H5 đến nhà chị H3 để H5 đặt cọc tiền mua đất của chị H3 và sau đó đến nhà bà T để H5 trả 400.000.000 đồng cho bà T và được H5 trả nợ 300.000.000 đồng để anh Đ trả cho bà T. Tuy nhiên, anh Đ không biết việc H5 nhận đặt cọc của anh C để bán lô đất nào và chuyển tiền đặt cọc cho chị H3 để mua lô đất nào, không biết việc H5 không trả tiền để hoàn thiện thủ tục sang tên đất cho anh C. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Đ là phù hợp.
  • Bà Nguyễn Thị T là người nhận 700.000.000 đồng từ H5. Tuy nhiên, bà T đã dùng số tiền này để trả cho người khác, do trước đó bà T vay giúp cho H5. Cơ quan điều tra đã thông báo cho bà T biết số tiền đó là tiền do H5 phạm tội mà có và yêu cầu bà T giao nộp lại tuy nhiên bà T không giao nộp với lý do đã trả nợ cho người khác hiết, tại thời điểm H5 giao số tiền trên cho bà T để trả nợ thì bà T không biết số tiền đó là do H5 phạm tội mà có.
  • Chị Đào Thị H3 là chủ sở hữu lô đất No19-10 của dự án khi nhà ở đấu giá xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có nhờ H5 bán hộ lô đất trên. H5 đã nhận 800.000.000 đồng tiền cọc thì anh C để bán lô đất đó cho chị H3 nhưng H5 chỉ đưa cho chị H3 100.000.000 đồng đặt cọc đất, số tiền còn lại H5 trả nợ hết. Sau đó, H5 nói với chị H3 chuyển lại 80.000.000 đồng để đặt cọc giúp chị H3 01 lô đất khác nhưng H5 rút chi tiêu cá nhân. Đến hạn ký hợp mua bán, do H5 không giao đủ tiền đất cho chị H3 để chuyển nhượng đất giữa chị H3 và anh C nên H5 bỏ trốn và tắt điện thoại liên lạc. Sau đó, chị H3 đã bán lô đất trên cho người khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với các hành vi của anh Đ, bà T, chị H3 là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đắc H5 phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 4 Điều 175; điểm a Khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Đắc H5 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; 07 (Bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Đắc H5 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự:

- Áp dụng: Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo H5 phải bồi thường cho anh Nguyễn Đắc C số tiền 800.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Đức C1 số tiền 200.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 104, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 Hợp đồng đặt cọc đề ngày 13/12/2021 (bản gốc); 01 phiếu thu đứng tên người nộp tiền là Bùi Thị Kim O đề ngày 19/12/2020; 01 văn bản thoả thuận dự án nhà ở xã D số No19-10/2020/VBTT đề ngày 19/12/2020 (đều là bản phô tô) và 02 trang A4 có hình ảnh thể hiện việc giao nhận tiền giữa anh C với H5.

5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Đắc H5 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 131/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đắc H bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger