|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày: 13-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Công Minh.
- Ông Nguyễn Bền .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST- HS, ngày 16 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
- Võ Minh Q, sinh ngày 14/5/2003, tại: tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm A, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ và mẹ là Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Lâm Thị Bích T và 01 người con sinh năm 2023; tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lương Thị L, sinh năm 1966 (chết). Đại diện hợp pháp của người bị hại:
- + Lương Thị P, sinh năm 1964. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- + Lương Thị P1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- + Lương Thị L1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lâm Thị Bích T, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Người làm chứng: Vương Thiên Â, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/01/2023, Q điều khiển xe mô tô hai bánh màu xanh đen, nhãn hiệu Honda, số loại Vario, dung tích xi lanh 125cm3, biển số kiểm soát 62P2-134.12 trên đường Quốc lộ 1 chở phía sau là Lâm Thị Bích T là vợ Q đi từ hướng Long An về tỉnh Bạc Liêu. Khi Q điều khiển xe 62P2-134.12 đến Km1959+350m Quốc lộ A, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (ngã 3 khu công nghiệp T) thì dừng lại do có đèn tín hiệu giao thông báo đỏ. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh, Q điều khiển xe vượt lên, do thiếu chú ý quan sát, không nhường đường, không giảm tốc độ nên Q để xe 62P2-134.12 va chạm vào người bà Lương Thị L, đang đi bộ qua đường tại khu vực có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, làm cho bà L té ngã xuống đường gây tai nạn. Sau tai nạn, Q đưa bà L đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện C rồi bỏ đi không trình báo cơ quan Công an. Hậu quả: đến ngày 17/01/2023, bà L tử vong, chị T bị thương ở chân trái.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ lúc 20 giờ ngày 15/01/2023 ghi nhận: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km1959+350m Quốc lộ A, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đường đôi dành cho xe chạy hai chiều riêng biệt bởi dãy phân cách cứng cố định ở giữa đường. Tai nạn xảy ra bên chiều đường xe chạy theo hướng T - M. Mặt đường tráng nhựa bằng phẳng, làn trong cùng rộng 2,0m, làn giữa rộng 3,50m. Ghi nhận vết màu đỏ nghi là máu có kích thước (01×1,30)m được đánh số (1). Chọn mép đường phía bên phải theo chiều đi từ T - M làm mép đường chuẩn, chọn trụ điện số 07 làm vật chuẩn. Vùng màu đỏ nghi là máu được đánh số (1) có tâm vết máu cách lề chuẩn 4,90m và có tâm vết máu đến trụ điện số 07 là 19m, từ tâm vết máu vuông góc với vạch kẻ đường màu trắng là 6,80m.
Tại Biên bản dựng lại hiện trường lúc 14 giờ ngày 17/3/2023 ghi nhận: Vị trí xe mô tô biển số 62P2-134.12 lúc xảy ra tai nạn được đánh số (1). Trụ điện số 07 làm vật chuẩn được đánh số (2). Chọn mép đường phía bên phải theo chiều đi từ T - M làm mép đường chuẩn và chọn trụ điện số 07 làm vật chuẩn. Tại vị trí (1) xe mô tô biển số 62P2-134.12 sau khi xảy ra tai nạn xe đứng (không ngã), đầu xe quay về hướng M, đuôi xe quay về hướng T. Từ tâm trục bánh trước cách lề chuẩn là 4,30m, từ tâm trục bánh sau cách lề chuẩn là 4,10m, từ tâm trục bánh sau đo vuông góc với vạch kẻ đường dành cho người đi bộ 2,10m. Tại vị trí (2) là trụ điện số 07 ở vị trí bên phải mép đường chuẩn. Từ tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 62P2-134.12 đo vuông góc trụ điện số 07 là 13,70m.
Tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 15 giờ 30 phút ngày 15/02/2023 tại Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đối với xe mô tô biển số 62P2-134.12 ghi nhận: Mặt ngoài ốp bảo vệ bô xe bằng nhựa ở vị trí gần cổ bô có vết trầy xước kích thước (08×03)cm; đầu gác chân sau bên phải có vết trầy xước kim loại kích thước (01×01)cm; bửng trước bên phải có vết nứt dài 07cm và gãy các chốt ốp; hông bửng bên phải có 02 vết trầy xước, vết thứ nhất cách đất 52cm, vết thứ hai cách đất 66cm; đèn xi nhan trước bên phải có vết trầy xước kích thước (5,5×2,5)cm, vết bể kích thước (08×02)cm. Hệ thống phanh, lái, kỹ thuật an toàn phương tiện hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện xác định: Xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 do Võ Minh Q điều khiển lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng T - M. Nạn nhân Lương Thị L đi bộ qua đường trên Quốc lộ A theo hướng từ lề phải của chiều lưu thông Mỹ T1 - Tân Hương sang lề phải của chiều lưu thông T - M. Vùng điểm va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 với nạn nhân Lương Thị L được ký hiệu là (1) trong Sơ đồ. Từ vị trí (1) kéo về hướng T là 4,6m và từ (1) kéo thẳng góc vào lề phải của hướng lưu thông T - M là 3,2m được ký hiệu là (A) trong Sơ đồ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 24/2023/TTh ngày 17/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong tử thi Lương Thị L: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh chẩm phải. Xuất huyết liềm đại não. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não/Gãy xương cánh tay trái. Gãy cổ xương đùi phải/Tai nạn giao thông.
Thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 và 01 (một) hợp đồng mua bán xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 do Võ Minh Q giao nộp, đây là tài sản thuộc sở hữu của Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trả lại cho Q;
- - 01 (một) đoạn camera thời lượng 02 phút 57 giây được trích xuất từ camrea an ninh ký hiệu CAM5 - CH1 thuộc hệ thống camera an ninh của cửa hàng X thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Kèm theo hồ sơ vụ án; 01 (một) đoạn camera thời lượng 09 phút 41 giây được trích xuất từ camrea an ninh ký hiệu CAM4 - CH1 thuộc hệ thống camera an ninh của cửa hàng X thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 01 (một) đoạn camera thời lượng 09 phút 50 giây được trích xuất từ camera, ký hiệu 2413=BXe thuộc hệ thống camera an ninh của cửa hàng Đ thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Kèm theo hồ sơ vụ án.
- - 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng-đen; 01 (một) áo khoác màu đen, có nón trùm đầu; 01 (một) quần jean lửng màu đen, mặt lưng có chữ NEW FASHION never give up. Do Q giao nộp, đây là nón, quần, áo Võ Minh Q mặc khi gây tai nạn.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSCT ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Minh Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Minh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 32, Điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Minh Q từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận đại diện hợp pháp của của người bị hại là Lương Thị P, Lương Thị P1 và Lương Thị L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền mai táng phí là 50.000.000 đồng. Q đã bồi thường xong, chị P, P1 và L1 có đơn xin bãi nại cho bị cáo, không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng-đen; 01 (một) áo khoác màu đen, có nón trùm đầu; 01 (một) quần jean lửng màu đen, mặt lưng có chữ NEW FASHION never give up.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm về với gia đình.
Bị cáo Võ Minh Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo Võ Minh Q nói lời sau cùng: bị cáo biết mình đã sai, bị cáo hứa không tái phạm, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm về với gia đình, bị cáo có con còn nhỏ, gia đình rất khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/01/2023, tại Km1959+350m Quốc lộ A, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Võ Minh Q không có giấy phép lái xe theo quy định đã có hành vi điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12, dung tích xi lanh 125cm3, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không nhường đường khi bà Lương Thị L đang đi bộ qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ dẫn đến xe 62P2-134.12 do Q điều khiển va chạm vào bà L gây tai nạn. Bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả làm bà L chết. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Minh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn giao thông, bởi lẽ tình hình tai nạn giao thông đường bộ hiện nay diễn biến ngày càng gia tăng, gây thiệt hại đến tính mạng và sức khoẻ của con người. Hậu quả là nhiều người phải bị thương tật suốt đời, mất đi khả năng lao động, học tập, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Mặc dù hiện nay Nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để đấu tranh phòng ngừa, hạn chế tai nạn giao thông thông qua các chế tài pháp luật hình sự và tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ trong nhân dân, thế nhưng bị cáo là người thành niên, điều khiển xe mô tô mà không có giấy phép lái xe, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không nhường đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ dẫn đến tai nạn làm cho người bị hại chết. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho bản thân và những người tham gia giao thông khác nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo, mà vẫn đảm bảo tính nghiêm minh, đồng thời thể hiện sự khoan hồng và chính sách nhân đạo của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của của người bị hại là Lương Thị P, Lương Thị P1 và Lương Thị L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền mai táng phí là 50.000.000 đồng. Q đã bồi thường xong, chị P, P1 và L1 có đơn xin bãi nại cho bị cáo, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với chị Lâm Thị Bích T ghi nhận các dấu vết trên cơ thể như sau: 01 (một) vết sẹo tròn đường kính 0,5cm trên mu bàn chân trái; 01 (một) vết rách da đã lành mặt ngoài gần gót bàn chân trái kích thước 1,5cm; ngoài ra không ghi nhận dấu vết khác. Chị T không đến bệnh viện khám điều trị và có đơn xin từ chối giám định thương tích, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng trong vụ án:
[7.1] 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 và 01 (một) hợp đồng mua bán xe mô tô hai bánh biển số 62P2-134.12 do Võ Minh Q giao nộp, đây là tài sản thuộc sở hữu của Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trả lại cho Q là đúng quy định.
[7.2] Trả lại các tài sản của bị cáo gồm 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng-đen; 01 (một) áo khoác màu đen, có nón trùm đầu; 01 (một) quần jean lửng màu đen, mặt lưng có chữ NEW FASHION never give up.
[8] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Minh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Võ Minh Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Q 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng - đen; 01 (một) áo khoác màu đen, có nón trùm đầu; 01 (một) quần jean lửng màu đen, mặt lưng có chữ NEW FASHION never give up (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Minh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Vân Trang |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Minh Quang - Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
