Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1300/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Long.
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 831/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 294/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1998. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Thường trú: 173/4 ấp T (nay là Ấp A), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phan Thanh T1, sinh năm 1999. (Vắng mặt)

Thường trú: 173/4 ấp T (nay là Ấp A), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không hòa giải được, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, ông Nguyễn Minh T và bà Phan Thanh T1 đã tự nguyện chung sống với nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 93 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2020.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình bên chồng tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà T1 thường xuyên bỏ nhà đi dài ngày mà không có lý do, bỏ bê không chăm sóc chồng con, không hoàn thành nghĩa vụ làm vợ, làm mẹ. Dù ông T đã nhiều lần nói chuyện, trao đổi với bà T1 nhưng đều bất thành. Ông T và bà T1 đã sống ly thân 04 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trở nên lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được. Do đó, ông T yêu cầu được ly hôn với bà T1.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông Nguyễn Minh T và bà Phan Thanh T1 có với nhau 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Ngọc An N, giới tính: nữ, sinh ngày 26/02/2021 theo Giấy khai sinh số 60/2021 đăng ký tại UBND xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/3/2021.

Hiện con Nguyễn Ngọc An N đang do ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Phan Thanh T1 thường xuyên bỏ nhà đi dài ngày, bỏ bê không chăm sóc con cái. Vì vậy, ông T đề nghị Quý Tòa giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Ngọc An N sau khi ly hôn. Ông T không yêu cầu bà Phan Thanh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, trở về chung sống với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có mặt theo triệu tập của Tòa án, bà Phan Thanh T1 vắng mặt không lý do, nên không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn có chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn ngày 03/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn số 93 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Khai không có nên không xem xét.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 26/02/2021. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con, bị đơn vắng mặt không lý do, do đó giao 01 con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đến khi nguyên đơn có yêu cầu.

Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Minh T với bị đơn bà Phan Thanh T1 là “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có hộ khẩu thường trú 173/4 ấp T (nay là Ấp A), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Phan Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T1 vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T và bà Phan Thanh T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 93 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2020 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Minh T và bà Phan Thanh T1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[4] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Minh T xin được ly hôn với bà Phan Thanh T1 do bà T1 thường xuyên bỏ nhà đi dài ngày mà không có lý do, bỏ bê không chăm sóc chồng con, không hoàn thành nghĩa vụ làm vợ, làm mẹ. Dù ông T đã nhiều lần nói chuyện, trao đổi với bà T1 nhưng đều bất thành. Ông T và bà T1 đã sống ly thân 04 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân.

Tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Quá trình giải quyết vụ án, bà T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T1 vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Như vậy, bà T1 đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ được đưa ra chứng cứ để chứng minh, nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết vụ án theo các chứng cứ do nguyên đơn ông T đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa ông T và bà T1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Bà T1 thường xuyên bỏ nhà đi dài ngày mà không có lý do, bỏ bê không chăm sóc chồng con, không hoàn thành nghĩa vụ làm vợ, làm mẹ. Dù ông T đã nhiều lần nói chuyện, trao đổi với bà T1 nhưng cả hai bên không thể hàn gắn, đoàn tụ trở về chung sống với nhau được. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng ông T và bà T1 đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông Nguyễn Minh T và bà Phan Thanh T1 có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 26/02/2021. Đối với yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc An N của ông T, Hội đồng xét xử xét thấy ông T có nơi cư trú và công việc ổn định, trẻ An Nhiên hiện đang sống cùng với ông T và do ông T trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét thấy để ổn định tâm sinh lý của trẻ. Căn cứ các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Nguyễn Ngọc An N cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của nguyên đơn không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T được ly hôn với bà Phan Thanh T1.
    2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 26/02/2021. Giao trẻ Nguyễn Ngọc An N cho ông Nguyễn Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ An Nhiên trưởng thành đủ 18 tuổi.

    Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà T1 cho đến khi ông T có đơn yêu cầu.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

    1. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của ông Nguyễn Minh T không có tài sản chung và nợ chung.
  2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Minh T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004751, ký hiệu BLTU/23P ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Minh T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM
  • - VKSND H. Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS H. Hóc Môn;
  • - UBND xã Tân Hiệp, H. Hóc Môn, TP. HCM (GCNKH số 93, ngày 03/9/2020);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Hồng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1300/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1300/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T. 1.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T được ly hôn với bà Phan Thanh T1. 1.2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 26/02/2021. Giao cháu Nguyễn Ngọc An N cho ông Nguyễn Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Phan Thanh T1 cho đến khi ông Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con. 1.3. Về tài sản chung: Ghi nhận lời trình bày của ông T không có tài sản chung và nợ chung [2] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Minh T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cần trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004751, ký hiệu BLTU/23P ngày 12 tháng 6 năm 2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger