|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số:130 /2024/HSST Ngày: 30/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Hoàng Công Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-QĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28/3/1988 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Họ và tên cha: Phạm Đình H – (Đã chết); H1 và tên mẹ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1948; Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Hà Thị S, sinh năm: 1991; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 26/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1950 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Bùi Trung T2, sinh năm 1973 Trú tại: xóm K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn N – Giám đốc công ty TNHH T4
Địa chỉ: xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 15 phút ngày 05/3/2024, Phạm T có giấy phép lái xe hạng A1, B2, số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 03/8/2015, có giá trị đến ngày 03/8/2025; điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 37C-495.84 thuộc sở hữu của Công ty TNHH T4 có địa chỉ tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Do ông Nguyễn Văn N làm Giám đốc) di chuyển trên đường Q theo hướng N - B. Đến khoảng 05 giờ 20 phút, Phạm T điều khiển xe ô tô di chuyển trên làn đường dành cho xe cơ giới trên phần đường phía Đông đường Q, khi đi đến đoạn gần điểm mở giải phân cách cứng giữa đường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ (tại đoạn đường Km 422+100 m Quốc lộ A thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) do không chú ý quan sát phía trước nên xe ô tô do Phạm T điều khiển đã xảy ra va chạm với xe đạp và bà Đinh Thị L, sinh năm 1950, trú tại xóm K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đang di chuyển theo hướng Đông – Tây trên đoạn có vạch kẻ sang đường dành cho người đi bộ cắt ngang qua điểm mở của giải phân cách cứng giữa đường. Sau tai nạn giao thông bà Đinh Thị L được Phạm T đưa đi cấp cứu nhưng đã chết vào hồi 17 giờ ngày 05/3/2024.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ; kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hồi 06 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng C Công an tỉnh N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km số 422+100 m đường Q, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, kết quả như sau:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được xác định tại Km số 422+100 m đường Q, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đây là đoạn đường thẳng được bố trí hai chiều đường xe chạy ngược chiều nhau có dải phân cách cứng cố định giữa đường phân chia hai chiều đường. Mỗi chiều đường rộng 9 m, gồm 02 (hai) làn xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,5 m, 01 (một) làn dành cho xe thô sơ rộng 02 m. Đoạn đường được rải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, tầm nhìn thông thoáng. Vụ tai nạn giao thông xảy ra ở chiều đường N - B. Hiện trường tương đối nguyên vẹn, các phương tiện lưu thông qua lại làm ảnh hưởng đến hiện trường, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu và rời khỏi hiện trường.
* Xác định điểm làm mốc và mép đường chuẩn đo đạc:
Tổ khám nghiệm hiện trường cột mốc Km số 422+100 m đường Q nằm trên dải phân cách ở giữa đường làm điểm mốc; lấy mép đường phía Đông của đường Q làm mép đường chuẩn, đơn vị đo là mét (m).
* Mô tả vị trí phương tiện, dấu vết, tang vật:
- + (1) Xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-49584;
- + (2) Xe đạp;
- + (3) Vết cày trượt mặt đường;
- + (4) Vùng dấu vết máu.
* Mô tả hiện trường:
Trên phần đường phía Đông quốc lộ A:
- + (1) Xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-49584 dừng đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng B, đuôi xe quay hướng Nam; T3 trục bánh trước, bánh sau bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn lần lượt là 6,2 m và 5,9 m; T3 bánh sau bên trái cách điểm mốc về phía Bắc theo phương mép chuẩn là 122,4 m.
- + (2) Xe đạp màu xám ngã nghiêng sang phải trên mặt đường, đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng T. T3 bánh trước cách mép chuẩn và cách tâm bánh trước bên phải xe ô tô lần lượt là 3,2 m và 7,5 m, tâm bánh sau cách mép chuẩn 4 m nằm về phía Nam xe ô tô.
- + (3) Trên mặt đường phát hiện vết cày trượt mặt đường không liên tục dài 5,7 m; đoạn đường rộng nhất là 0,1 m hướng từ Nam ra B; điểm đầu dấu vết cách mép chuẩn 5,6 m; điểm cuối dấu vết cách mép chuẩn về phía Nam lần lượt là 5,7 m và 5,9 m.
- + (4) Trên mặt đường phát hiện vùng dấu vết máu kích thước (06 x 0,4) m. T3 vùng dấu vết cách mép chuẩn 3,4 m, cách tâm bánh trước phải xe ô tô (1) về phía Nam theo phương mép chuẩn là 0,2 m.
*Kết quả dựng lại hiện trường
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km số 422+100 Quốc lộ A, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, kết quả như sau:
- + Hiện trường xảy ra tai nạn được xác định tại Km số 422+100 đường Q, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đoạn đường là đoạn đường thẳng, hai chiều đường chạy theo hướng Bắc - Nam, hướng B đi thành phố Hà Nội, hướng N1 đi thành phố V, mặt đường được trải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, ở giữa đường có dải phân cách chia làn đường thành hai phần đường, mỗi phần đường rộng 09 m, mỗi phần đường được chia thành 03 làn đường, gồm 02 làn dành cho xe cơ giới rộng 3,5 m và 01 làn dành cho xe thô sơ rộng 02 m. Tại vị trí xảy ra tai nạn có khoảng mở để đi sang đường rộng 28 m.
Ghi nhận quá trình khám nghiệm:
* Đánh số thứ tự theo số tự nhiên:
- (1) Xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-49584;
- (2) Xe đạp;
* Xác định điểm mốc:
Hội đồng thống nhất lấy cột mốc km 422+200 đặt trên giải phân cách làm điểm mốc, lấy lấy mép đường phía Dông của đường Quốc lộ 1A làm mép chuẩn, đơn vị đo là mét (m).
* Căn cứ dựng lại hiện trường:
Căn cứ vào Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, lời khai của người có liên quan.
* Phương tiện dựng lại hiện trường:
Xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-49584; Xe đạp.
* Phương pháp:
Vị trí số 1: Cho xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-49584 vào vị trí như lúc sau khi xảy ra va chạm theo trình bày trịc dẫn của ông Phạm T, sinh năm 1988, trú tại xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là tài xế lái xe). Đầu xe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam. T3 trục bánh lốp trước và tâm trục bánh lốp sau bên phải cách cách mép chuẩn lần lượt là 6,2 m và 5,9 m, lốp sau bên phải cách mốc 122,4 về phía Bắc.
Vị trí số 2: Xe đạp trong tư thế ngã nghiêng sang phải trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe cơ giới, đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng T. T3 trục bánh trước cách mép chuẩn 3,2 m và cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 37C-495.84 là 7,5 m về phía Bắc, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 04 m.
* Kết luận giám định về dấu vết trên phương tiện và hiện trường:
Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 446/QĐ-ĐTTH đề nghị Phòng K Công an tỉnh N giám định dấu vết cơ học.
Ngày 09/4/2024, Phòng K Công an tỉnh N có kết luận giám định số:104/KL-KTHS(DVCH),kết luận:
“1. Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-495.84 di chuyển trên phần đường phía Đông đường Quốc lộ A theo hướng từ thành phố V đi Hà Nội, xe đạp di chuyển theo hướng từ phải sang trái so với chiều di chuyển của xe ô tô mang biển kiểm soát 37C-495.84.
- Không đủ cơ sở xác định chính xác làn đường di chuyển của xe ô tô mang biển kiểm soát 37C - 495.84 và xe đạp ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 37C - 495.84 với xe đạp:
- Trên phương tiện:
+ Trên xe ô tô mang biển kiểm soát 37C - 495.84: Ở mặt trước bên phải phần đầu xe.
+ Trên xe đạp: Ở phần phía bên trái xe.
- Trên hiện trường: Ở phần đường P đường Q.
3. Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô mang biển kiểm soát 37C - 495.84 và xe đạp ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.”
* Kết luận giám định pháp y về tử thi:
* Ngày 05/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 366a/QĐ-ĐTTH để trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân chết của bà Đinh Thị L.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 17/KLGĐTT-TTPY ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh N kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- - Vỡ nhãn cầu mắt bên phải, mi trên và mi mắt bên phải lõm vào trong;
- - Gãy kín 1/3 dưới hai xương cẳng tay bên phải;
- - Một số vết rách da tại các vị trí: Cung lông mày bên phải; mi dưới mắt bên phải và thái dương bên trái.
- - Một số đám sưng nề thâm tím tại các vị trí: Trán bên phải, hàm dưới bên phải; má bên trái; giữa ngực; 1/3 trên trước cánh tay bên trái và dưới cẳng tay bên phải.
2. Kết luận nguyên nhân tử vong: Do gia đình có đơn xin từ chối giải phẫu tử thi nên chúng tôi không đủ căn cứ để kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Đinh Thị L, sinh năm 1950, trú tại xóm K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Kết luận khác: Không./.”
* Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định trưng cầu số: 506/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân chết của bà Đình Thị L1 qua hồ sơ, tài liệu. Tại Bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số: 18/KLTTHS-TTPY ngày 16/4/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh N kết luận: “Kết luận nguyên nhân tử vong: Nạn nhân Đinh Thị L, sinh năm 1950, trú tại xóm K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An tử vong do suy hô hấp tuần hoàn, suy hô hấp/Mất máu cấp; Đa chấn thương; Chấn thương ngực bụng./.”
* Kết luận định giá thiệt hại về tài sản:
Tại Bản kết luận định giá về tài sản ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND huyện D, kết luận:
“Kết luận về giá tài sản (tính bằng VNĐ): giá trị tài sản thiệt hại hiện tại được xác định là:
01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, số loại QKR QMR, số máy: 223H07, số khung: RLE1MR77HPVA00759,màu sơn: Trắng, biển kiểm soát 37C-495.84 đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn, cụ thể:
- - 01 (Một) ốp mặt nạ đầu xe bị hư hỏng, trượt xước, móp lõm kim loại, có thể khắc phục được. Số tiền: 750.000 đồng.
- - 01 (Một) cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải đầu xe bị nứt vỡ hư hỏng, không thể khắc phục được. Số tiền: 2.200.000 đồng.
Tổng cộng: 2.950.000đ (Bằng chữ: Hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
01 (Một) xe đạp hai bánh có màu bạc, trên khung xe có tem in dòng chữ BRIDGESXONE đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn, cụ thể:
- - 01 (Một) vành bánh sau bị cong vênh, mài khuyết kim loại, không thể khắc phục được. Số tiền: 150.000 đồng.
Tổng cộng: 150.000 đồng. (Bằng chữ: Một trăm năm mươi nghìn đồng)
Bản cáo trạng số 137/CT-VKS-DC ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Phạm T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm T về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự: Sau tai nạn, Phạm T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Do đó, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Bùi Trung T2, sinh năm 1973, trú tại xóm K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (con đẻ của bà Đinh Thị L) không yêu cầu, đề nghị gì thêm. Đối với thiệt hại về tài sản: Chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn đã tự nguyện khắc phục, sửa chữa tài sản bị hư hỏng và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về mặt dân sự.
- Án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án và diễn biến khách quan của vụ án. Đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 05 giờ 20 phút ngày 05/3/2024, tại Km 422+100 mđường Quốc lộ A thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Phạm T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 37C-495.84 theo hướng Nam - Bắc; do không chú ý quan sát phía trước nên đã xảy ra va chạm với xe đạp và bà Đinh Thị L đang di chuyển trên đường dành cho người đi bộ theo hướng Đ. Hậu quả, bà Đinh Thị L chết. Hành vi tham gia giao thông của Phạm T đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Kết luận giám định pháp y về tử thi, Kết luận giám định dấu vết cơ học; lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra xác định: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ nói trên là do Phạm T điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát phía trước nên đã xảy ra va chạm với xe đạp và bà Đinh Thị L đang di chuyển trên đường dành cho người đi bộ gây hậu quả bà Đinh Thị L chết. Hành vi tham gia giao thông của Phạm T đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; vi phạm quy định tại khoản 5, Điều 4 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ đồng thời vi phạm điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự nên đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong tình hình hiện nay các hành vi vi phạm quy định về giao thông vận tại đang được các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý. Bị điều khiển xe ô tô thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ, phương tiện và khoảng cách khi tham gia giao thông, không đảm bảo an toàn nên đã gây hậu quả nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn là của bị cáo nên cần xử lý nghiêm bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; Quá trình điều tra, Phạm T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có mẹ đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Bởi vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng ổn định, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú vì vậy nghĩ chưa cần thiết phải cách ly xã hội mà áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ niềm tin để bị cáo sửa mình, cải tạo thành người tốt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5, điều 260 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạngA1, B2, số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 03/8/2015mang tên Phạm Tiến h đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án.
[6]. Xử lý phương tiện, tài liệu, đồ vật, liên quan: 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, số máy: 223H07, số khung: RLE1MR77HPVA00759, số loại QKR QMR màu sơn: Trắng, biển kiểm soát 37C-495.84; 01 (Một) xe đạp hai bánh có màu bạc, trên khung xe có tem in dòng chữ BRIDGESXONE đã qua sử dụng và các giấy tờ có liên quan. Sau khi tạm giữ để phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã tiến hành trả lại chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên miễn xét.
[7]. Trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, Phạm T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Do đó, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu, đề nghị gì thêm. Đối với thiệt hại về tài sản: Chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn đã tự nguyện khắc phục, sửa chữa tài sản bị hư hỏng và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Phạm T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: bị cáo Phạm T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/8/2024).
Giao bị cáo Phạm T cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với UBND xã (phường) khi có yêu cầu. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe hạngA1, B2, số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 03/8/2015 mang tên Phạm T sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về án phí:
Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Phạm T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 130/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 130/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại ngoại
