Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/DS-PT

Ngày: 30/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu;
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Trung;
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên-Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và 30/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2024/TLPT-DS, ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2024/QĐ-PT ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1964; Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị T: Ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền ngày 26/01/2024). (có mặt)

- Người kháng cáo: Ông Phạm Hoàng V là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày như sau:

Vào ngày 04/04/2021 âm lịch, vợ chồng ông Phạm Hoàng V, bà Nguyễn Thị T có hỏi mượn tiền bà Phạm Thị N để cho con đi học Công an nên bà N có cho ông V, bà T mượn số tiền 7.000.000 đồng. Vì là bà con cô cậu ruột nên bà N tin tưởng mà không làm giấy tờ cho vay, ông V, bà T hứa 01 tháng sau sẽ trả. Tháng đầu tiên, ông V, bà T có đưa cho bà N được 400.000 đồng tiền lãi và 03 con vịt siêu thịt (khoảng 09 kg). Từ đó đến nay, ông V, bà T không trả tiền gốc cho bà N. Ngày 23/06/2023, bà N có gọi điện thoại cho ông V, bà T nhiều lần và đến nhà gặp mặt trực tiếp hai vợ chồng ông V để lấy lại tiền nhưng vợ chồng ông V hứa lần hồi và có ý định không trả cho bà N. Bà N có gửi đơn yêu cầu đến Tổ hòa giải ấp Kinh Ngây giải quyết sự việc. Ngày 20/08/2023, Ban nhân dân ấp Kinh Ngây có mời các bên lên để hòa giải thì ông V không thừa nhận có mượn tiền bà N. Tuy nhiên, bà N có bản ghi âm nội dung bà T thừa nhận có việc mượn tiền bà N và số tiền ông V còn thiếu bà N là 7.000.000 đồng.

Nay bà Phạm Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn Vũ, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới trả lại bà N số tiền còn nợ là 7.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Hoàng V là bị đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị T trình bày như sau:

Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, ông V đã nghe rõ đoạn ghi âm mà bà N cung cấp cho Tòa án. Ông V cho rằng trước giờ vợ chồng ông không có mượn tiền gì của bà N, còn chuyện cho vịt là do bà con lối xóm, ông tặng cho chứ không phải trả lãi bằng vịt. Thời điểm ghi âm là lúc vợ ông ở nhà sau, bà N có đến nói chuyện với vợ ông mục đích là đòi tiền ông. Vợ ông V cứ nghĩ ông V có mượn tiền bà N nên vợ ông có nhận nợ và hứa trả cho bà N. Khi ông V về, vợ ông mới hỏi ông có mượn tiền bà N (dì Năm) không thì ông V nói không có mượn, cũng không có thiếu tiền gì của bà N. Bà N chỉ có đoạn ghi âm mà không đưa ra được giấy nợ. Do đó, vợ chồng ông V không đồng ý trả cho bà N số tiền 7.000.000 đồng nêu trên.

* Vụ án được Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; các điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị N. Buộc bị đơn ông Phạm Hoàng V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị N số tiền vốn vay là 7.000.000 đồng.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Đến ngày 15/02/2024, ông Phạm Hoàng V kháng cáo cho rằng ông không có vay mượn tiền của bà Phạm Thị N nên không đồng ý trả tiền cho bà N theo quyết định của Bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo;

- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau:

+ Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Phạm Hoàng V và áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, xem xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo do bị đơn Phạm Hoàng V lập và nộp trực tiếp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 15/02/2024 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của ông V theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn Phạm Hoàng V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn bà Phạm Thị N cho rằng có cho vợ chồng ông Phạm Hoàng V, bà Nguyễn Thị T vay mượn số tiền 7.000.000đ, không có làm giấy tờ vay nợ nhưng bà N có cung cấp cho Tòa án đoạn ghi âm giọng nói của bà Nguyễn Thị T có nói nội dung bà T thừa nhận có mượn bà N 7.000.000₫ và hứa trả. Bị đơn ông Phạm Hoàng V không thừa nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N vì cho rằng vợ chồng ông không có vay mượn tiền của bà N. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông V thừa nhận giọng nói trong đoạn ghi âm mà bà N cung cấp cho Tòa án là giọng nói của bà Nguyễn Thị T và nội dung trong đoạn ghi âm bà T thừa nhận có mượn nợ bà N 7.000.000đ và hứa hẹn trả cho bà N. Việc ông V nại ra rằng bà T lầm tưởng là ông V có mượn nợ bà N nên mới thừa nhận nợ là không có cơ sở vì tại thời điểm ghi âm và cho đến hiện tại, quan hệ giữa ông V và bà T vẫn là quan hệ vợ chồng hợp pháp cùng chung sống, làm ăn kinh tế chung với nhau nên việc vay mượn nợ của vợ hoặc chồng thì người còn lại phải biết thì mới thừa nhận nợ với bên cho mượn nợ. Do đó, có đầy đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định sự thật vụ án như sau: Vào ngày 04/04/2021 âm lịch, bà N có cho vợ chồng ông V, bà T vay số tiền 7.000.000 đồng, không có thỏa thuận lãi suất, cũng không có làm hợp đồng bằng văn bản. Từ ngày vay đến nay, vợ chồng ông V, bà T không trả cho bà N được số tiền nào nên bà N yêu cầu Tổ hòa giải ấp Kinh Ngây giải quyết. Xét hợp đồng vay tài sản giữa bà N và vợ chồng ông V, bà T là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực thi hành. Ông V, bà T không trả cho bà N số tiền vay 7.000.000₫ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn Phạm Hoàng V, Nguyễn Thị T liên đới trả cho bà N số tiền 7.000.000₫ là phù hợp.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Hoàng V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Hoàng V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Hoàng V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng và phần Quyết định được tuyên lại như sau:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị N. Buộc bị đơn ông Phạm Hoàng V, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị N số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Phạm Hoàng V và bà Nguyễn Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

- Nguyên đơn bà Phạm Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000992 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

- Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

* Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Hoàng V chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001154 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký và đóng dấu

Nguyễn Thành Hữu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán Thẩm phán Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Tôn Thị Thanh Thúy Trần Nam Trung Nguyễn Thành Hữu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 130/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N-V Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger