|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/DS -ST
Ngày: 28/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Nguyễn Thái Hòa.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 991/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 1200/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B).
Địa chỉ: T đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T.
Người được ủy quyền khởi kiện và tham gia toàn bộ quá trình tố tụng: Ông Vũ Đức Q – Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 (Quyết định ủy quyền số 804/QĐ-BIDV ngày 22/8/2019).
Ông Q ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn Minh L, sinh năm 1995 (văn bản ủy quyền số 010 ngày 28/2/2024).
Địa chỉ: B đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Trang Thanh T1, sinh năm 1983.
Địa chỉ HKTT: Ấp 6 +7, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện tại: Số nhà C, đường N, khu tái định cư B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông L có đơn xin giải quyết vắng mặt; bà T1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (B) do ông Nguyễn Văn Minh L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 cho bà Nguyễn Trang Thanh T1 vay vốn theo các Hợp đồng tín dụng sau:
- Theo Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022: Số tiền vay 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng); Mục đích vay để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Thời hạn vay: 360 tháng; Lãi suất vay là 11%/năm trong vòng 12 tháng, sau 12 tháng áp dụng lãi suất = Lãi suất tiết kiệm trả sau VND kỳ hạn 24 tháng + 4.5%/năm; Đối với nợ gốc quá hạn: Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Vào ngày 02/12/2022, bà Nguyễn Trang Thanh T1 đã ký bảng kê rút vốn và Ngân hàng đã giải ngân số tiền 5.500.000.000 đồng cho bà T1. Khoản vay đã quá hạn từ ngày 06/03/2023 tới thời điểm hiện tại thì bà Nguyễn Trang Thanh T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Tạm tính đến ngày 28/8/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 6.359.228.723đồng (Sáu tỷ ba trăm năm mươi chín triệu hai trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng). Trong đó: Tiền gốc: 5.454.400.000 đồng; Lãi trong hạn: 840.267.811 đồng; Lãi quá hạn: 9.473.208 đồng; Lãi chậm trả: 55.087.632đồng.
- Vào ngày 14/12/2022, bà Nguyễn Trang Thanh T1 ký đơn “đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1. Hạn mức thẻ tín dụng được cấp là 50.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Hiện nay, bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền (tạm tính đến ngày 28/8/2024) là: 65.964.024 đồng (Sáu mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn không trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Tiền gốc là 49.458.020 đồng; Lãi trong hạn: 11.329.035 đồng; Lãi quá hạn: 4.431.444 đồng; Lãi chậm trả 745.525 đồng.
Như vậy, tạm tính đến ngày 28/8/2024, bà T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 6.425.192.747đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng.
Toàn bộ số tiền vay tại Hợp đồng tín dụng nêu trên được đảm bảo bằng tài sản của bà Nguyễn Trang Thanh T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 78/2022/16357868/HĐBĐ ngày 09/12/2022 được ký kết giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ– chi nhánh B1 và bên thế chấp bà Nguyễn Trang Thanh T1, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B1 ngày 12/12/2022 gồm:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 103, tờ bản đồ số 16, diện tích 136,6m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689526 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 59, tờ bản đồ số 16, diện tích 114,2m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689525 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 113, tờ bản đồ số 16, diện tích 64,4m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689527 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
Do quá trình vay vốn bà T1 đã không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng B theo đúng lịch trả nợ như Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 28/8/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 6.425.192.747đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà T1, phải trả cho Ngân hàng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 28/8/2024 là bà T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 6.425.192.747 đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng. Bà T1 tiếp tục phải trả khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
Trong trường hợp bà Nguyễn Trang Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng thì tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 78/2022/16357868/HĐBĐ ngày 09/12/2022 là tài sản đảm bảo nghĩa vụ thi hành án gồm:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 103, tờ bản đồ số 16, diện tích 136,6m2 tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689526 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 59, tờ bản đồ số 16, diện tích 114,2m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689525 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 113, tờ bản đồ số 16, diện tích 64,4m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689527 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
Về án phí và chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Trang Thanh T1 vắng mặt tại các bước tiến hành tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa nên không có nội dung trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà:
Về thủ tục tố tụng: Về việc thụ lý đơn, xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa được đảm bảo. Nguyên đơn thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1, Đồng Nai với bà Nguyễn Trang Thanh T1 có thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022 để vay vốn tại Ngân hàng với hạn mức số tiền là 5.500.000.000 đồng và đơn “đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” ngày 4/12/2022 với hạn mức thẻ tín dụng được cấp là 50.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay của bà T1 tại Ngân hàng TMCP Đ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc các thửa đất số 103, 59, 113, tờ bản đồ số 16, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T1 phải trả cho Ngân hàng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.425.192.747đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; L1 chậm trả 55.833.137 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 29/8/2024 cho đến khi bà T1 thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thì quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại văn bản xác minh đề ngày 20/11/2023, Công an phường B, thành phố B cung cấp thông tin bà Nguyễn Trang Thanh T1 hiện đang cư trú tại địa chỉ số C, đường N, khu tái định cư B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022, các bên thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Việc các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[1.2] Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ là nguyên đơn; bà Nguyễn Trang Thanh T1 là bị đơn. Ngân hàng có văn bản uỷ quyền cho ông L thay mặt tham gia tố tụng. Văn bản uỷ quyền phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[1.3] Bà Nguyễn Trang Thanh T1 đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và các phiên toà xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ông L đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Đối với yêu cầu thanh toán gốc, lãi:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T1 phải trả cho Ngân hàng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.425.192.747 đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; L1 chậm trả 55.833.137 đồng và phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng. Quá trình giải quyết vụ án, bà T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, chứng cứ phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy bà T1 đã tự từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022 và Bảng kê rút vốn ngày 02/12/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với bà Nguyễn Trang Thanh T1 thể hiện Ngân hàng cho bà T1 vay số tiền 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng). Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền này cho bà T1.
Căn cứ vào đơn “đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” và giấy xác nhận nhận thẻ tín dụng thể hiện Ngân hàng cấp cho bà T1 thẻ tín dụng số 427126xxxxxxxx0100 với hạn mức tín dụng 50.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tạm tính đến ngày 28/8/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền 6.425.192.747đồng. Trong đó theo Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022 là 6.359.228.723đồng (Tiền gốc: 5.454.400.000 đồng; Lãi trong hạn: 840.267.811 đồng; Lãi quá hạn: 9.473.208 đồng; Lãi chậm trả: 55.087.632 đồng) và số tiền thẻ tín dụng là: 65.964.024 đồng (Tiền gốc là 49.458.020 đồng; Lãi trong hạn: 11.329.035 đồng; Lãi quá hạn: 4.431.444 đồng; Lãi chậm trả 745.525 đồng). Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà T1 phải trả số tiền nợ gốc 5.503.858.020đồng (Năm tỷ năm trăm lẻ ba triệu tám trăm năm mươi tám nghìn không trăm hai mươi đồng) là có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu về tiền lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T1 trả tiền lãi do vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền tính đến hết ngày 28/8/2024 là 921.334.707 đồng (Chín trăm hai mươi mốt triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn bảy trăm lẻ bảy đồng). Trong đó: Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng và lãi suất phát sinh theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết kể từ ngày 29/8/2024 cho đến khi bà T1 thanh toán xong.
Xét các chứng cứ mà Ngân hàng cung cấp thể hiện bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo hợp đồng. Số tiền lãi mà Ngân hàng đã tính toán là chính xác. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T1 phải trả tiền lãi tính đến hết ngày 28/8/2024 là 921.334.707 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Qua nhận định trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà T1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 6.425.192.747đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng.
Kể từ ngày 29/8/2024, bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà bà T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Đ theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
[2.2] Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng: Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 103, tờ bản đồ số 16, diện tích 136,6m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689526 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022bà Nguyễn Trang Thanh T1; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 59, tờ bản đồ số 16, diện tích 114,2m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689525 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022bà Nguyễn Trang Thanh T1; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 113, tờ bản đồ số 16, diện tích 64,4m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689527 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022bà Nguyễn Trang Thanh T1 (Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 78/2022/16357868/HĐBĐ ngày 09/12/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh B1 và Bên thế chấp bà Nguyễn Trang Thanh T1). Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B1 ngày 10/12/2022.
Tài liệu xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện trên đất không có tài sản, công trình gì, không có người sinh sống quản lý đất. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định hiện trạng đất thế chấp không thay đổi so với thời điểm thẩm định cho vay.
Xét thấy, hợp đồng thế chấp nói trên được các bên tự nguyện ký kết, được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo cho khoản vay của Ngân hàng.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.000.000đ (Một triệu đồng) đã được Ngân hàng tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bà T1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ này. Bà T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bà T1 phải chịu án phí với số tiền 57.212.596 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng). Ngân hàng được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 56.882.705 đồng (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu số 0009617 ngày 10 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với tài liệu chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 40, 68, 147, 158, 227, 228, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 4, 91, 95 và 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) đối với bà Nguyễn Trang Thanh T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Nguyễn Trang Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) số tiền tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 6.425.192.747 đồng (Sáu tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 5.503.858.020 đồng; Lãi trong hạn: 851.596.846 đồng; Lãi quá hạn 13.904.724 đồng; Lãi chậm trả 55.833.137 đồng. Cụ thể:
+ Theo Hợp đồng tín dụng số 78/2022/16357868/HĐTD ngày 02/12/2022 là 6.359.228.723 đồng (Tiền gốc: 5.454.400.000 đồng; Lãi trong hạn: 840.267.811 đồng; Lãi quá hạn: 9.473.208 đồng; Lãi chậm trả: 55.087.632 đồng).
+ Theo thẻ tín dụng là: 65.964.024 đồng (Tiền gốc là 49.458.020 đồng; Lãi trong hạn: 11.329.035 đồng; Lãi quá hạn: 4.431.444 đồng; Lãi chậm trả 745.525 đồng).
Kể từ ngày 29/8/2024, bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà bà T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
2. Tài sản thế chấp bảo đảm thi hành án là:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 103, tờ bản đồ số 16, diện tích 136,6m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689526 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 59, tờ bản đồ số 16, diện tích 114,2m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689525 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 113, tờ bản đồ số 16, diện tích 64,4m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 689527 do Sở T2, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/12/2022cho bà Nguyễn Trang Thanh T1.
(Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 78/2022/16357868/HĐBĐ ngày 09/12/2022 giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – chi nhánh B1 và Bên thế chấp bà Nguyễn Trang Thanh T1). Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B1 ngày 10/12/2022).
3. Về án phí:
- Bà Nguyễn Trang Thanh T1 phải nộp số tiền 57.212.596 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ 56.882.705 đồng (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu số 0009617 ngày 10 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Trang Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự. - VKSND TP.Biên Hòa. - Chi cục THADS TP.Biên Hoà. - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 130/2024/DS -ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 130/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BIDV và Nguyễn Trang Thanh Trúc
