Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày 25 - 10- 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tạ Văn Doanh.
  2. Ông Phạm Văn Chữ.

Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22/10/2024 và ngày 25/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/HSST ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST- HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:

Vi Văn C, sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Vi Văn C1; Con bà: Vi Thị S; Vợ; Con: Chưa có; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến 26/7/2024; Hiện bị cáo tại ngoại “có mặt”.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nông Văn H, sinh năm 1986 “vắng mặt”.
  2. Anh Vi Văn B, sinh năm 1989 “vắng mặt”.
  3. Anh Triệu Văn C2, sinh năm 1991 “vắng mặt”.
  4. Anh Lầu Văn B1, sinh năm 1993 “vắng mặt”.
  5. Anh Lục Văn Đ, sinh năm 1989 “vắng mặt”.
  6. Anh Hoàng Văn S1, sinh năm 1993 “vắng mặt”.
  7. Anh Lăng Trung D, sinh năm 1992 “vắng mặt”.
  8. Anh Lầu Mạnh P, sinh năm 1978 “vắng mặt”.
  9. Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1994 “vắng mặt”.
  10. Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  11. Anh Hoàng Văn C3, sinh năm 2001 “vắng mặt”.
  12. Anh Nguyễn Văn C4, sinh năm 1983 “vắng mặt”.
  13. Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  14. Hoàng Ngọc H1, sinh năm 2000 “vắng mặt”.
  15. Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiềungày 16/02/2024 tại nhà Văn hoá thôn X, xã B, huyện L, nhân dân thôn X tổ chức liên hoan chúc mừng đội bóng của thôn đạt giải nhì trong giải bóng đá do xã B tổ chức. Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn liên hoan xong, một số người đã rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh Xóc đĩa được thua bằng tiền tại N1. Những người tham gia đánh Xóc đĩa được thua bằng tiền gồm: Nông Văn H, sinh năm 1986; Vi Văn B, sinh năm 1989; Triệu Văn C2, sinh năm 1991; Lầu Văn B1, sinh năm 1993; Lục Văn Đ, sinh năm 1989; Hoàng Văn S1, sinh năm 1993; Hoàng Ngọc H1, sinh năm 2000; Lăng Trung D, sinh năm 1992; Lầu Mạnh P, sinh năm 1978; Hoàng Văn N, sinh năm 1994 đều trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Hoàng Văn C3, sinh năm 2001; Nguyễn Văn C4, sinh năm 1983, Vi Văn C, sinh năm 2000 đều trú tại thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi đánh bạc thì H rủ B và C2 mỗi người góp 1.000.000 đồng để chung tiền làm nhà cái, sau khi đánh bạc xong thì sẽ chia đều số tiền thu lợi được từ việc đánh bạc. B và C2 đồng ývà mỗi người đã đưa cho H số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó B lấy01 đoạn tre khô ở bờ rào chẻ thành 6 mảnh tre khô hình vuông có kích thước khoảng (01x01)cm rồi dùng lửa hơ một mặt thành màu đen, một mặt để nguyên dạng để làm quân vị; H lấy 01 bát, 01 đĩa bằng sứ màu trắngở sân mang vào trong nhà văn hoá để làm công cụ đánh bạc, còn 01 bảng vị được làm từ 01 tờ bìa cát tông, kẻ thành 04 ônhưng không rõ ai là người làm. Sau khi chuẩn bị xong công cụ đánh bạc xong thì các đối tượng cùng ngồi xuống chiếu được trải sẵn trong nhà Văn hóa để đánh bạc. Khi đánh bạc, H là người xóc cái, C2 ngồi cạnh H để xem, B cầm bảng vị và có nhiệm vụ thu tiền của bên thua, trả cho bên thắng. Những người còn lại gồm B1, S1, Đ, D, C4, P, C, C3, N trực tiếp thả tiền đánh bạc. Hình thức đánh xóc đĩa như sau:Khi bắt đầu chơi, người xóc cái (Nông Văn H) sẽ để 04 quân vị trên đĩa rồi úp bát lên đĩa che quân vị lại, sau đó cầm cả đĩa và bát đã úp lên tiến hành xóc (gọi là xóc cái). Sau khi xóc cái xong, người xóc cái đặt bát, đĩa xuống chiếu (chưa mở bát) rồi những người chơi tiến hành đặt cược. Có hai cửa, một cửa chẵn và một cửa lẻ. Quy ước cửa chẵn là bên phía tay phải của người xóc cái, cửa lẻ là bên phía tay trái của người xóc cái. Cửa chẵn là cửa khi mở bát cho ra kết quả 4 quân vị cùng có màu đen hoặc 4 quân cùng có màu trắng hay 2 quân màu đen + 2 quân màu trắng. Cửa lẻ là trường hợp kết quả cho ra 1 quân màu trắng + 3 quân màu đen hoặc 1 quân màu đen + 3 quân màu trắng. Người chơi thích cửa nào thì đặt cược tiền vào cửa đó, khi mở bát kết quả cho ra cửa mà người chơi đặt cược thì được thắng tiền, kết quả cho ra cửa còn lại thì thua tiền. Khi thắng thì nhà cái sẽ trả tiền cho người chơi bằng với số tiền người chơi đã đặt cược (tỉ lệ thắng tiền là 01 ăn 01) nếu thua thì nhà cái sẽ thắng số tiền mà người chơi đã đặt cược.Ngoài ra, khi mọi người đặt cược xong, nếu nhà cái không thích cá cược cửa bên nào thì có quyền hô bán cửa bên đó cho người khác. Ví dụ: nhà cái không thích cá cược bên chẵn có thể hô “bán chẵn”, nếu có người mua thì người mua sẽ mở bát. Khi mở bát kết quả về chẵn thì nhà cái được ăn hết tiền bên lẻ, người mua phải trả tiền bên chẵn. Nếu kết quả về bên lẻ thì nhà cái phải trả hết tiền bên lẻ, người mua sẽ được ăn tiền bên chẵn. Và tương tự với việc nhà cái hô “bán lẻ”. Nếu nhà cái hô bán mà không ai mua thì mọi người rút tiền đã đặt cược về và xóc cái lại, chơi ván khác.Bên cạnh đó, người chơi có thể đặt cược vào tấm bảng vị đặt trước mặt Vi Văn B (người cầm bảng vị). Bảng vị được làm từ một tấm bìa cát tông, có kẻ 04 ô, mỗi ô tương ứng với một cửa (vị), gồm: một cửa có 04 quân vị cùng màu đen (gọi là bốn đen); một cửa có 04 quân vị cùng màu trắng (gọi là bốn trắng); một cửa có 01 quân màu trắng + 3 quân màu đen (gọi là sấp 3), một cửa có 1 quân màu đen + 3 quân màu trắng (gọi là sấp 1). Khi so kết quả thắng thua vẫn so theo kết quả do Nông Văn H xóc cái. Tỉ lệ cá cược ở bảng vị như sau: Cửa 04 đen hoặc 04 trắng tỉ lệ cá cược là 01 ăn 10. Nghĩa là nêu người chơi đặt 100.000đ tiền cược vào cửa này mà kết quả khi mở bát đúng như người chơi đặt cược thì sẽ thắng tiền gấp 10 lần được 1.000.000đ (gồm cả tiền đã bỏ ra cược), nếu không về cửa như đặt cược thì thua chỉ mất 100.000đ.Cửa sấp 3 hoặc sấp 1 thì tỉ lệ cá cược là 01 ăn 03. Nghĩa là nêu người chơi đặt 100.000đ tiền cược vào cửa này mà kết quả khi mở bát đúng như người chơi đặt cược thì sẽ thắng tiền gấp 03 lần được 300.000đ (gồm cả tiền đã bỏ ra cược), nếu không về cửa như đặt cược thì thua chỉ mất 100.000đ. Các đối tượng nêu trên đánh bạc đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã B phát hiện bắt quả tang, trong quá trình bắt giữ, lợi dụng sơ hở Vi Văn C đã bỏ chạy thoát. Thu giữ trên chiếu bạc gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 06quân vị bằng tre, 01 bảng vị, 01 áo phông màu đỏ vàng, số tiền 13.720.000đ; thu giữ trên người các đối tượng: Hoàng Ngọc H1: Số tiền 1.000.000₫, 01 điện thoại di độngnhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, màu tím; Vi Văn B: Số tiền 695.000đ, 01 điện thoại di độngnhãn hiệu ViVo; Hoàng Văn S1: Số tiền 650.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, màu đen; Lục Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 7, màu đen; Lầu Văn B1: Số tiền 100.000₫, 01 điện thoại di độngnhãn hiệu VIVO, màu đỏ đen.

Quá trình điều tra các đối tượng khai số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:Lầu Văn B1 khai trước khi đánh bạc có 1.600.000₫, bỏ 1.500.000₫ ra để đánh bạc, còn 100.000đ để trong túi quần không sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh bạc để tiền trên chiếu bạc, khi bị bắt quả tang đang thua; Lục Văn Đ có 150.000₫ sử dụng đánh bạc, quá trình đánh bạc thua hết tiền;Hoàng Văn S1 trước khi đánh bạc có1.000.000₫ sử dụng đánh bạc, quá trình đánh bạc thua mất 350.000đ, còn lại số tiền 650.000đ chưa kịp sử dụng đánh bạc thì bị bắt quả tang;Hoàng Văn C3 có 100.000đ sử dụng đánh bạc, khi C3 vừa thả tiền xuống chiếu để đánh bạc thì bị bắt quả tang;Hoàng Ngọc H1 trước khi đánh bạc có 1.500.000đ, H1 bỏ ra 500.000₫ sử dụng để đánh bạc và bị thua hết, số tiền còn lại 1.000.000đ để trong túi quần không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Lăng Trung D có 40.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đã thua hết; Nguyễn Văn C4 có 50.000₫ sử dụng để đánh bạc, khi C4 vừa thả tiền xuống chiếu bạc để đánh bạc thì bị bắt quả tang; Lầu M có 100.000đ sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt quả tangPhương đang thua bạc; Hoàng Văn N có 100.000₫ sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang N đang thua bạc.

Quá trình điều tra Vi Văn C bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 22/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định truy nã đối với Vi Văn C. Ngày 23/7/2024, Vi Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh bạc bị thua hết tiền.

Đối với hành vi đánh bạc của Nông Văn H, Vi Văn B, Triệu Văn C2, Lăng Trung D, Lầu Văn B1, Lục Văn Đ, Hoàng Văn S1, Hoàng Văn C3, Hoàng Ngọc H1, Hoàng Văn N, Lầu M, Nguyễn Văn C4 đã bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử tại Bản án số 112/HS-ST ngày 04/9/2024.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm mức án nhẹ nhất và cho hưởng án treo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.

Bản cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn C phạm tội “Đánh bạc":

Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ai có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai tại phiên toà. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[3] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 16/02/2024 tại Nhà văn hoá thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Vi Văn C cùng một số đối tượng đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã B phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tiền, công cụ sử dụng đánh bạc. Quá trình bắt quả tang Vi Văn C bỏ chạy thoát và sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 23/7/2024 C đến Công an huyện L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 14.370.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc đã bị xét xử tại Bản án số 112/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

Đánh giá vai trò của bị cáo: Trong vụ án, bị cáo tham gia đánh bạc không phải là người khởi xướng, rủ các đối tượng khác đánh bạc; số tiền bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc thấp nên xác định bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai, B2; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú nên được hưởng tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo đã ra đầu thú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích trục lợi bất chính nên cần phạt tiền đối với bị cáo, mức tiền phạt khởi điểm 10.000.000đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự như mức đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xem xét và chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Về vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng thu giữ đã được xử lý tại Bản án số 112/HS-ST ngày 04/9/2024 nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Vi Văn C 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.

    Hình phạt bổ sang: Phạt tiền bị cáo Vi Văn C 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

    Giao bị cáo Vi Văn C cho UBND xã B, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
  4. Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger