Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Vân Văn Kiều;
  • 2. Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Tẩn S, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 27/8/1968, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Lả N, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Tẩn Phủ L, đã chết; mẹ đẻ: Phàn Tả M, đã chết; Vợ: Tẩn San M1, đã chết; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Tẩn Vần H, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 12/10/1982, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Mồ Sì San, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Tẩn Chỉn K, đã chết; mẹ đẻ: Tẩn Lở M2, đã chết; Vợ: Chẻo Lở M3, sinh năm 1980; bị cáo có 04 điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Tẩn Vần Hẻo 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Ngày 25/7/2024, Tẩn Vần H bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức xử phạt là phạt tiền. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch cho các bị cáo: Anh Tẩn Lao T, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 6/2024, tại khu vực chợ S, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu, Tẩn Sài L1 mua được 01 gói Heroine giá 700.000 đồng, của một người đàn ông không rõ lai lịch. Mua được H1, L1 mang về nhà và nhiều lần lấy ra sử dụng bằng hình thức hít. Số H1 còn lại L1 cất giấu không cho ai biết. Khoảng 18 giờ, ngày 07/6/2024, Tẩn Sài L1 đang ở nhà thì nhận được điện thoại qua Zalo của Tẩn V Hẻo hỏi mua Heroine để sử dụng, L1 hẹn Hẻo đến khu đồi cạnh nhà L1 để giao dịch. Sau đó, L1 dùng một chiếc đèn pin đội đầu chiếu sáng đi bộ ra địa điểm hẹn gặp L1. Khoảng 20 giờ cùng ngày, L1 và H gặp nhau tại điểm hẹn, L1 bán cho H 01 gói Heroine lấy số tiền 300.000 đồng, gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Mua được H1, H cất giấu vào trong chiếc ví màu đen để trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 21 giờ 00 phút, ngày 07/6/2024, khi Tẩn V Hẻo đi về đến bản Lả Nhì Thàng, xã S, huyện P thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng S1 - Bộ đội Biên phòng tỉnh L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của H là 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng, 01 chiếc ví màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo. H khai nhận chất bột màu trắng là Heroine Hẻo mua được của Tẩn V, mục đích H mua về để sử dụng. Căn cứ lời khai của Tẩn Vần H, ngày 08/6/2024, Đồn Biên phòng S1 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tẩn S, quá trình khám xét L1 tự giao nộp số tiền 300.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. L1 khai nhận số tiền 300.000 đồng là tiền L1 bán Heroine cho H mà có, L1 đã dùng chiếc điện thoại để liên lạc trao đổi với H để bán Heroine. Quá trình thực nghiệm điều tra thu giữ trong nhà L1 01 chiếc đèn pin, 01 chiếc túi vải màu đen Liều dùng cất giấu số tiền bán Heroine cho H.

Bản Kết luận giám định số: 690/KL-TTHS, ngày 10/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Vần Hẻo có khối lượng 0,33 gam, là ma tuý; loại Heroine.

Bản Kết luận giám định số: 923/KL-TTHS, ngày 06/72024, của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Tổng số tiền 300.000 đồng tiền Việt Nam bao gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

2

“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tẩn Vần H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Tẩn Sài L1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự, bị cáo Tẩn Vần H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T1 Sài Liều mức hình phạt từ 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn V Hẻo mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng đến 01 (Một) năm, 08 (T2) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng thu của bị cáo Tẩn Sài L1. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04c, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, đã thu của các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví giả da màu đen, 01 chiếc túi vải, 01 chiếc đèn pin, 01 mảnh nilon màu hồng, vỏ gói, vỏ niêm phong. Đối với toàn bộ 0,33 gam Heroine thu giữ của bị cáo H đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các Heroine cho Tẩn V1 Hẻo lấy số tiền 300.000 đồng. Mua được H1, H cất giấu vào trong chiếc ví màu đen để trong túi quần rồi đi bộ về nhà. Hồi 21 giờ 00 phút, cùng ngày 07/6/2024, khi Tẩn V Hẻo đang đi tại bản Lả Nhì Thàng, xã S, huyện P thì bị tổ công tác S1 tỉnh Lai Châu bắt quả tang. Tẩn Vần H đã giao nộp cho tổ công tác 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng, 01 chiếc ví màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo. H khai nhận chất bột màu trắng là Heroine Hẻo mua được của Tẩn V, mục đích H mua về để sử dụng. Kết quả trưng cầu giám định xác định được chất bột màu trắng thu giữ của H có khối lượng 0,33 gam, là ma tuý; loại Heroine. Tẩn Sài L1 đã khai nhận hành vi bán trái phép Heroine cho Tẩn V Hẻo đúng như lời khai của H.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Tẩn Sài L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Tẩn Vần H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 89/CT-VKSPT, ngày 13/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo H đã khai báo việc mua Heroine của bị cáo L1, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện ra hành vi phạm tội của bị cáo L1 nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Tẩn Sài L1 phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Tẩn Vần H đã bị Tòa án xét xử 01 lần về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; vào ngày 25/7/2024, sau thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo L1 khai mua được của một người không rõ lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 300.000 đồng là tiền do bị cáo L1 bán trái phép chất ma túy mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 02 chiếc điện thoại di động thu của các bị cáo do các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc đèn pin, 01 chiếc túi vải, 01 chiếc ví giả da, mảnh nilon màu hồng, các vỏ niêm phong là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,33 gam Heroine thu giữ trong vụ án đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo Tẩn Vần H thuộc diện hộ cận nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Bị cáo Tẩn Sài L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  2. Bị cáo Tẩn Vần H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn Sài L1: 02 (Hai) năm, 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2024.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn V Hẻo: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
  4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu hóa giả nộp ngân sách: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04e, thu giữ của bị cáo Tẩn Sài L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiện OPPO A5, thu giữ của bị cáo Tẩn Vần H.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đèn pin, 01 chiếc túi vải, 01 chiếc ví giả da, 01 mảnh nilon màu hồng, các vỏ niêm phong.

    (Vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi: 09 giờ 30 phút, ngày 24/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu).

  5. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS, Nhà Tạm giữ);
  • - Đồn Biên phòng Sì Lở Lầu;
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về vụ án hình sự

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo tàng trữ, mua bán TP CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger