Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/DS-PT

Ngày 25-7-2024

V/v Tranh chấp yêu cầu tuyên bố

hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái và ông Lê Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐ-PT ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐ-PT ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu S, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Hoài V, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn:

+ Ông Đào Văn N, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Q, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

+ Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số F P, phường G, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Lê Quốc L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ A, thôn X, xã P, thành phố P và bà Nguyễn Thanh M, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: Lô A KDC Hùng Vương B, đường T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đào Thị Q1, sinh năm 1994.
  2. Anh Đào Văn T, sinh năm 1997.
  3. Chị Đào Thị N1, sinh năm 1999;
  4. Ông Đào Văn T1, sinh năm 1967;

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

  1. Bà Đào Thị Xuân H1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Thanh H.

Tại phiên tòa có mặt: Ông V, bà Q, ông N, ông L, bà M, bà H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Phạm Thị Thu S trình bày:

Bà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q với bà Trần Thị Thanh H được Văn phòng C chứng thực ngày 04/6/2020 là giao dịch dân sự vô hiệu, khôi phục lại giá trị pháp lý ban đầu của quyền sử dụng đất để cơ quan thi hành án tiến hành các thủ tục phát mãi tài sản thi hành án cho bà. Vì trước đây, vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q nhiều lần vay tiền và vàng của bà nhưng không trả, nên đến năm 2020, bà khởi kiện vợ chồng ông N, bà Q tại Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà phát hiện ngày 04/6/2020 vợ chồng bà Q, ông N chuyển nhượng đất đai cho bà Trần Thị Thanh H, hai bên làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C nên bà làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngày 08/6/2020, Tòa án ban hành quyết định số 02/2020/QĐ-BPKCTT, áp dụng biện pháp cấm ông N, bà Q chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp các thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17. Tuy nhiên, sau đó các bên vẫn thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất cho bà H được.

Bản án số 32/2020/DS-ST, ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh và Bản án số 74/2020/DS-PT, ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã buộc vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q phải trả cho bà số tiền 1.964.547.000 đồng, 06 lượng vàng 24k và tiền lãi chậm trả phát sinh. Căn cứ theo các bản án này, ngày 03/12/2020 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh ban hành Quyết định số 293/QĐ-CCTHADS buộc vợ chồng ông N, bà Q phải thi hành án cho bà. Trong quá trình thi hành án, sau khi tiến hành xác minh thì Chi cục Thi hành dân sự huyện T xác định quyền sử dụng thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17 là tài sản duy nhất của ông N, bà Q để thi hành án. Chi cục thi hành án dân sự đã thông báo cho bà Trần Thị Thanh H khởi kiện để giải quyết tranh chấp đối với tài sản này. Bà H khởi kiện nhưng không yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đã lập giữa hai bên. Như vậy, việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông N, bà Q cho bà H được xác định có mục đích nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Chi cục Thi hành án dân sự cũng đã tiến hành kê biên đối với 02 thửa đất này nhưng chưa tiến hành cưỡng chế được vì còn vướng hợp đồng chuyển nhượng đã được lập giữa vợ chồng ông N, bà Q với bà H. Hiện nay khi được Chi cục Thi hành án dân sự thông báo thì bà tiến hành khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q trình bày:

Vợ chồng ông bà kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách, cần vốn làm ăn nên có vay mượn tiền, vàng của nhiều người, trong đó có bà Phạm Thị Thu S và bà Trần Thị Thanh H; ngoài ra vợ chồng ông N, bà Q còn thế chấp tài sản nhà đất để vay Ngân hàng lấy tiền làm vốn kinh doanh. Do kinh doanh thua lỗ, không có khả năng thanh toán các khoản nợ nên ông bà bị các chủ nợ khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh. Sau khi Tòa án giải quyết, đến quá trình thi hành án thì vợ chồng ông bà với bà H thỏa thuận bà H bỏ ra một khoản tiền để trả cho Ngân hàng và các chủ nợ đã yêu cầu thi hành án để ông bà lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp ngân hàng về; sau đó ông bà làm thủ tục chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng các thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17 cho bà H để cấn trừ qua số tiền bà H đã chi trả.

Thực hiện thỏa thuận như trên, ngày 04/6/2020, vợ chồng ông bà cùng bà H đến Văn phòng C để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận số L046981, cấp ngày 22/6/1998 mang tên Đào Văn N cho bà H; hợp đồng chuyển nhượng được hai bên tự nguyện ký kết, được công chứng cùng ngày, tại thời điểm chuyển nhượng không có văn bản của cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn không cho phép vợ chồng ông, bà chuyển dịch tài sản. Sau khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng, bà H chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành vì sau đó Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh ban hành quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tài sản trên. Hiện tại hợp đồng chuyển nhượng chưa đăng ký biến động và tài sản thì vợ chồng ông, bà vẫn đang quản lý, sử dụng.

Đối với số tiền và vàng vợ chồng ông, bà nợ bà S và phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh thì vợ chồng ông, bà chưa thực hiện được vì không còn tài sản để thi hành án.

Theo yêu cầu khởi kiện của bà S trong vụ án thì ông, bà không đồng ý vì việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông, bà với bà H vào ngày 04/6/2020 là hoàn toàn tự nguyện, được sự thống nhất của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh; tại thời điểm thỏa thuận tài sản chuyển nhượng không bị tranh chấp và không có văn bản cấm chuyển dịch tài sản của cơ quan có thẩm quyền.

- Bị đơn bà Trần Thị Thanh H trình bày:

Từ chỗ quen biết nhau trong quá trình làm ăn nên vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q nhiều lần vay tiền của bà với số tiền là 2.000.000.000 đồng. Do kinh doanh thua lỗ nên vợ chồng ông N, bà Q không có khả năng thanh toán số nợ trên cho bà nên bà cho vợ chồng ông N, bà Q trả dần. Đến khoảng tháng 5/2020, vợ chồng ông N, bà Q liên hệ với bà thông báo có diện tích đất khoảng 9.600m² thuộc thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận số L046981, cấp ngày 22/6/1998 mang tên Đào Văn N đang thế chấp vay ngân hàng, đến hạn thanh toán nhưng không có tiền để trả nên muốn chuyển nhượng cho bà H để lấy tiền trả ngân hàng, đồng thời trả nợ luôn cho bà thì bà đồng ý. Hai bên thống nhất giá trị tài sản chuyển nhượng là 3.500.000.000 đồng. Ngày 04/6/2020, bà cùng vợ chồng ông N đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, vợ chồng ông N, bà Q yêu cầu bà đưa trước một số tiền để vợ chồng ông N thực hiện nghĩa vụ thi hành án nhưng bà chỉ giao tiền chứ không biết cụ thể như thế nào. Sau đó, hai bên đến Ngân hàng N2 chi nhánh T2, tại đây bà tiếp tục giao tiền để vợ chồng ông N thanh toán cho ngân hàng và lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên cùng nhau đến Văn phòng C thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm lập và ký kết hợp đồng chuyển nhượng thì hai bên hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch, không xảy ra tranh chấp với ai. Tuy nhiên, một thời gian sau vẫn chưa thấy hoàn thành thủ tục đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất cho bà, bà liên lạc với vợ chồng ông N thì được biết tài sản chuyển nhượng đã bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không cho chuyển dịch tài sản. Từ đó bà mới khởi kiện vợ chồng ông N, bà Q tại Tòa án, yêu cầu buộc vợ chồng ông N trả cho bà Hằng số tiền 1.500.000.000 đồng mà bà đã bỏ ra; Tòa án đã ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên nhưng đến nay vợ chồng ông N vẫn chưa thi hành án cho bà, nhà cửa đất đai vợ chồng ông N vẫn đang quản lý, sử dụng.

Theo yêu cầu khởi kiện của bà S trong vụ án thì bà không đồng ý. Bởi vì bà và vợ chồng ông N, bà Q tự nguyện thỏa thuận chuyển nhượng, thủ tục chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn phù hợp, hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực pháp luật chứ không có căn cứ để tuyên giao dịch là vô hiệu.

- Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Đào Thị Q1, anh Đào Văn T và chị Đào Thị N1 đều trình bày:

Chị Đào Thị Q1, anh Đào Văn T và chị Đào Thị N1 là con của ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q. Ngày 04/6/2020 chị Q1, anh T và chị N1 được ông N, bà Q thông báo đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản nhà đất của gia đình cho bà Trần Thị Thanh H; chị Q1, anh T và chị N1 tự nguyên đến ký hợp đồng còn cụ thể nội dung thỏa thuận chuyển nhượng như thế nào là do vợ chồng ông N thỏa thuận với bà H. Liên quan trong vụ án thì chị Q1, anh T và chị N1 thống nhất với nội dung trình bày và ý kiến của vợ chồng ông N, bà Q. Các đương sự không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

+ Ông Đào Văn T1 trình bày:

Ông Đào Văn T1 là anh trai của ông Đào Văn N. Thời điểm trước năm 1998, cha mẹ của ông T1 có cho ông T1, ông N và ông Đào Văn Q2 mỗi người được quyền sử dụng khoảng 15 mét ngang đất mặt tiền đường DT 720 tại thôn H, xã G, huyện T. Năm 1998, trong quá trình đăng ký thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N đứng tên quyền sử dụng cả phần đất cha mẹ cho ông T1 và ông Q2, ông T1 biết nhưng vì chỗ anh em trong nhà hòa thuận, không có tranh chấp gì nhau nên không có ý kiến gì. Phần diện tích đất cha mẹ cho ông N thì vợ chồng ông N làm nhà ở; còn phần diện tích của ông T1 thì đến năm 2000, ông T1 lập gia đình ra riêng mới xây dựng nhà cửa, làm tường rào ranh mốc như hiện nay; phần đất trống bên cạnh nhà ông N còn có ngôi mộ chôn người con trai của bà Đào Thị Xuân H1, là chị của ông T1, ông N. Quá trình sử dụng đất của anh em ông T1 diễn ra ổn định, không xảy ra tranh chấp với ai. Việc ông N, bà Q thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, trong đó có diện tích gia đình ông T1 đang quản lý, sử dụng thì ông T1 không được biết, vợ chồng ông N không thông báo và ông T1 cũng không tham gia vào quá trình chuyển nhượng. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của gia đình ông T1. Do đó, ông T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu S trong vụ án. Ông T1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án, việc phân chia quyền sử dụng đất giữa các anh em trong gia đình ông T1 sẽ tự giải quyết với ông N.

+ Bà Đào Thị Xuân H1 trình bày:

Bà Đào Thị Xuân H1 là chị của ông Đào Văn N. Thực tế quyền sử dụng các thửa đất ông Đào Văn N đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh H là tài sản của cha mẹ cho các anh chị em trong nhà chứ không phải cho riêng ông N, trong đó có phần quyền sử dụng của bà H1 là 5 mét ngang mặt tiền đường DT 720, trên đất có ngôi mộ chôn người con trai của bà H1 chết từ năm 1975. Việc ông N tự ý thực hiện thủ tục chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất cho bà H mà không thông qua ý kiến của các anh chị em trong gia đình làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H1. Trường hợp Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đai đã lập giữa vợ chồng ông N với bà H, bà H được quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời ngôi mộ con trai bà H1 chôn trên đất là bà H1 không đồng ý. Do đó bà H1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà S trong vụ án. Bà H1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án, việc phân chia quyền sử dụng đất giữa các anh em trong gia đình bà H1 sẽ tự giải quyết với ông N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 11 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c, khoản 1 Điều 39; các Điều 146, 147, 157, 165, 203, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các điểm c khoản 1 Điều 117; các Điều 122, 123; khoản 2 Điều 160 và Điều 503 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Các Điều 12, 167, 168 và 188 Luật đất đai năm 2013;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu S. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q với bà Trần Thị Thanh H được Văn phòng C chứng thực ngày 04/6/2020 là giao dịch dân sự vô hiệu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 03/01/2024, bị đơn bà Trần Thị Thanh H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người đại diện bị đơn bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Bị đơn ông N, bà Q cung cấp bản gốc giấy viết tay với tiêu đề “giấy mượn tiền”. Bà Q cho rằng giấy này do bà H ghi với nội dung ông N mượn bà Hằng số tiền 920.000.000đ, bà H đứng tên giùm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi ông N trả đủ tiền, bà H sẽ sang tên lại cho ông N. Vợ chồng ông N, bà Q đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.

Về nội dung: “giấy mượn tiền” mà bà Q ông N cung cấp đã thể hiện bà H cho ông N vay 920.000.000đ, bà H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi nào ông N trả đủ tiền bà H sẽ sang tên lại cho ông N. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông N, bà Q là giả tạo, nhằm che đậy hợp đồng vay tài sản. Mặt khác, trên thửa đất nhận chuyển nhượng còn có nhà và các công trình xây dựng khác của gia đình ông Đào Văn T1 nên đối tượng của hợp đồng cũng không thể thực hiện được. Mặc dù không có căn cứ cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để trốn tránh trách nhiệm với người khác như án sơ thẩm đánh giá nhưng hợp đồng này vẫn bị vô hiệu như nhận định trên. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Văn phòng C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, trong vụ án này, không có đương sự nào yêu cầu công chứng viên phải giải thích văn bản công chứng hay yêu cầu Văn phòng C phải bồi thường thiệt hại nên việc giải quyết các yêu cầu của đương sự không liên quan đến Văn phòng C. Do vậy, cấp phúc thẩm xác định Văn phòng C không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn, bị đơn là người kháng cáo vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa; các đương sự khác vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh H:

[2] Ngày 04/6/2020 vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q và các con là Đào Thị Q1, Đào Văn T, Đào Thị N1 cùng bà Trần Thị Thanh H có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 240 và 437, cùng tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L046981, cấp ngày 22/6/1998 mang tên Đào Văn N tại Văn phòng C. Tuy nhiên, vào ngày 03/6/2020, bà H có viết “giấy mượn tiền” với nội dung thể hiện bà H có cho ông Đào Văn N mượn số tiền 920.000.000 đồng và có đứng tên sổ đỏ giùm, khi nào bán bà H sẽ đi công chứng sang tên cho ông N và phải trả tiền đủ cho bà là 920.000.000 đồng, bà H có nhận sổ đỏ để sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L046981. Như vậy, việc ông N, bà Q và bà H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/6/2020 là hợp đồng giả tạo nhằm đảm bảo việc ông N trả khoản nợ vay 920.000.000 đồng. Thực tế các bên không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo như thoả thuận trong hợp đồng, vì bà H không quản lý, sử dụng tài sản nhận chuyển nhượng, cho đến nay bà H chưa được cập nhật đứng tên quyền sử dụng đối với 2 thửa đất này. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà Q với bà H bị vô hiệu do giả tạo.

[3] Trên thửa đất số 437 mà các bên thỏa thuận chuyển nhượng, ngoài căn nhà của gia đình ông N, bà Q, còn có căn nhà xây của ông Đào Văn T1, phần nhà, đất mà gia đình ông T1 và gia đình ông N đang sử dụng có hàng rào làm ranh giới, hiện nay gia đình ông T1 vẫn đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất số 437, nhưng khi ông N, bà Q chuyển nhượng thửa đất số 437 cho bà H thì lại không có ý kiến của ông T1 và đến nay ông T1 cũng không đồng ý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà Q và bà H. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối tượng không thể thực hiện được, theo quy định tại Điều 408 Bộ luật Dân sự thì hợp đồng này vô hiệu.

[4] Không có căn cứ cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà Q với bà H là để trốn tránh trách nhiệm với người thứ ba, nhưng hợp đồng này vẫn bị vô hiệu do giả tạo và có đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được. Do vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q với bà Trần Thị Thanh H vô hiệu là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của bà H là không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là giữ nguyên bản án sơ thẩm

[5] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, các bên đương sự không có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà H phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thanh H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 100/2023/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.

Áp dụng:

  • - Khoản 11 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c, khoản 1 Điều 39; các Điều 146, 147, 148, 157, 165, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các điểm Điều 124, 408 và Điều 503 Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu S. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q, bà Đào Thị Q1, ông Đào Văn T, bà Đào Thị N1 với bà Trần Thị Thanh H được Văn phòng C, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/6/2020 là giao dịch dân sự vô hiệu.

3. Về án phí:

  • - Án phí sơ thẩm: Buộc vợ chồng ông Đào Văn N, bà Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Buộc bà Trần Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005610 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - TAND cấp huyện;
  • - Chi cục THADS cấp huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 130/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà S khởi kiện yêu cầu tuyên HĐ CNQSD đất vô hiệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger