|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày: 25-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cảnh Liêm và bà Lê Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trường T, sinh ngày: 07/9/1999 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: E N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Trường K, sinh năm: 1952 và bà Bùi Thị Tuyết H, sinh năm: 1962; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T7, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Phạm Lê H1, sinh ngày 01/7/2005 “có mặt”
Địa chỉ: 4 N, TP ., tỉnh Bình Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 05/12/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an T7 phối hợp cùng Công an phường Ghềnh Ráng tuần tra phòng chống tội phạm, khi đi đến trước số nhà A V thuộc khu phố E, P. G, TP . thì phát hiện Nguyễn Trường T đang đứng có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện T đang cầm trên tay trái 01 gói nilon bên trong chứa gói giấy đựng thực vật khô, T khai nhận với Tổ công tác là ma túy cần sa T cất giữ để ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành thu giữ gói nilon trên, niêm phong và đưa T về trụ sở làm việc.
Nguồn gốc ma túy cần sa trên T mua của một người không rõ lai lịch qua ứng dụng Telegram với giá 3.000.000 đồng gồm 100 gam ma túy cần sa vào ngày 02/12/2023. Người bán gửi hàng cho T thông qua dịch vụ chuyển phát (T không nhớ rõ công ty), khi nhận hàng T giao tiền cho người chuyển hàng vào ngày 04/12/2023. Đến ngày 05/12/2023, T mang ma túy cần sa theo bên người để ai mua thì bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, tạm giữ.
Quá trình điều tra, T còn khai nhận: Vào khoảng ngày 20/7/2023, T liên lạc với một người không rõ lai lịch qua ứng dụng telegram hỏi mua 50 gam ma túy cần sa với giá 1.500.000 đồng. Sau khi nhận hàng qua dịch vụ chuyển phát, T đưa tiền cho người giao hàng và nhận ma túy. Số ma túy nay T bán 03 lần cho người tên Phạm Lê H1 và sử dụng một mình hết. Cụ thể 03 lần bán cho H1 như sau:
Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 25/7/2023, H1 nhắn tin qua messenger cho T hỏi mua 01 gam ma túy cần sa, T báo giá 130.000 đồng và hẹn giao tại tiệm internet ở E N, TP .. Sau đó, T đến gặp và giao 02 điều ma túy cần sa cho H1. Khoảng 02-03 ngày sau, H1 nhờ một người (không quen biết) chuyển giúp số tiền 130.000 đồng đến số tài khoản của T rồi đưa tiền mặt cho người này, H1 nhắn tin báo lại cho T biết là đã chuyển tiền cho T. Bán được số ma túy trên, T thu lời 100.000 đồng.
Lần 2: Vào trưa ngày 30/7/2023, H1 nhắn tin qua messenger hỏi mua 01 gam ma túy cần sa với giá 130.000 đồng, hẹn giao tại đoạn gần trường THPT Q, đường N, TP .. Tiên đồng ý bán và đến điểm hẹn giao 02 điếu ma túy cần sa cho H1. Cách 02-03 ngày sau H1 nhờ một người lạ chuyển tiền 130.000 đồng qua số tài khoản ngân hàng của T và đưa tiền mặt cho người này. Bán được số ma túy trên, T thu lời 100.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 16 giờ ngày 03/11/2023, H1 tiếp tục nhắn tin qua messenger hỏi mua 01 gam ma túy cần sa với giá 130.000 đồng, hẹn giao tại đoạn gần Trường THPT Q, đường N, TP .. Tiên đồng ý bán và đến điểm hẹn giao 02 điếu ma túy cần sa cho H1. Sau đó, H1 chuyển 130.000 đồng qua tài khoản ngân hàng của T. Tiên thu lời 100.000 đồng.
Ngày 07/12/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh B gửi bản Kết luận giám định số 526/KL-KTHS kết luận: Mẫu thực vật khô (ký hiệu A1) đựng bên trong 01 gói giấy gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,8018 gam là (loại): Cần sa; Mẫu thực vật khố (ký hiệu A2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 60,8253 gam là (loại): Cần sa. Tổng ma túy cần sa: 80,6271gam.
Cần sa nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự 01, danh mục ID Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an T7 đã tạm giữ: 80,6271 gam, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen (có gắn số sim 0896364520), 02 hộp nhựa, 01 cân điện tử, 01 cuộn giấy hình chữ nhật màu đen.
Bản Cáo trạng số 132/CT - VKS QN ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Trường T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Trường T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trường T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vỏ bao bì đựng ma túy còn lại sau giám định, 01 hộp nhựa, 01 cân điện tử, 01 hộp nhựa hình tròn, 01 cuộn giấy hình chữ nhật, màu đen, sim điện thoại số 0896.364.xxx. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X màu đen (đã qua sử dụng).
- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Trường T là người có đầy đủ sức khỏe, có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tác hại rất lớn của ma túy gây ra cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm nên việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài, bất chấp pháp luật nên ngày 25/7/2023 bị cáo bán cho Phạm Lê H1 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng, ngày 30/7/2023 bị cáo bán cho H1 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng, ngày 03/11/2023 bị cáo bán cho H1 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng. Đến ngày 05/12/2023, bị cáo T tiếp tục tàng trữ 80,6271 gam ma tuý loại cần sa để bán. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Trường T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về xử lý vật chứng và truy thu sung ngân sách Nhà nước:
- Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại iphone X màu đen của bị cáo, ma túy loại cần sa còn lại sau giám định, 01 hộp nhựa, 01 cân điện tử, 01 hộp nhựa hình tròn, 01 cuộn giấy hình chữ nhật màu đen. Xét thấy bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước (riêng các sim điện thoại thì tiêu hủy). Các dụng cụ dùng đựng ma tuý, cân điện tử hiện không có giá trị kinh tế nên tịch thu tiêu huỷ. Ma túy do Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu số ma túy còn lại sau giám định và vỏ, bao bì đựng ma tuý.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định).
- Truy thu sung vào ngân sách nhà nước: Bị cáo bán ma túy cho Phạm Lê H1 thu lợi bất chính 300.000 đồng nên truy thu số tiền này của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác:
Đối với Phạm Lê H1 là người mua ma túy của Nguyễn Trường T về sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an T7 tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với người bán ma túy cần sa cho Nguyễn Trường T thông qua ứng dụng Telegram mang tên nước ngoài, T không xác định được tên của tài khoản này nên Cơ quan CSĐT Công an T7 không có căn cứ để xác minh lai lịch của người này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2024.
- Xử lý vật chứng và truy thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 3.1. Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn “Phòng K1 - Công an tỉnh B”, có chữ ký của Lê Tuấn T1, Nguyễn Thành T2, Nguyễn Nhật H2 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 16,6227 gam mẫu A1 và 57,7663 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
- + Thẻ sim số 0896364520; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) hộp nhựa hình tròn; 01 (một) cuộn giấy hình chữ nhật, màu đen.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Quy Nhơn).
- 3.2. Truy thu nộp vào Ngân sách nhà nước: Truy thu của bị cáo 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- 3.1. Xử lý vật chứng:
- Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Hồng Diễm |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngày 25/7/2023 bị cáo Nguyễn Trường T bán cho Phạm Lê H 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng, ngày 30/7/2023 bị cáo bán cho H 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng, ngày 03/11/2023 bị cáo bán cho H 01 gam ma tuý loại cần sa với giá 130.000 đồng. Đến ngày 05/12/2023, bị cáo T tiếp tục tàng trữ 80,6271 gam ma tuý loại cần sa để bán.
