|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số:130/2024/HS-ST Ngày 25-6-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Ông Trương Văn Hiếu
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Cường và bà Vũ Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Đ, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Hoàng Q, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2004 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số E Lô D T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu N đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và con bà Hoàng Thị Quỳnh H1; chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Thị Bích P, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số B đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu N đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc V (đã chết) và bà Trương Thị H2; chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2005 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Tổ dân phố số F, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu N đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2 và bà Phạm Thị T3; chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số B đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lê Đức H3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 19/12/2023, tại khu vực đầu ngõ B A, Đ, Công an quận N đã kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Quốc Đ (sinh năm 2002, nơi thường trú: Số 2/192 Bùi Thị Tự N, Đ I, H, Hải Phòng) và Nguyễn Thị Bích P có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ: trên tay của Đ 01 gói nilon kích thước 5x8cm bên trong có chứa thực vật khô (mẫu số 1), trong người của P 01 điếu thuốc lá cuộn thực vật khô dài 7 cm (mẫu số 2), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đều đã qua sử dụng trên tay P.
Do không có việc làm nên khoảng đầu tháng 10/2023, Nguyễn Thị Phương T1, Nguyễn Thị Hoàng Q và Nguyễn Thị Bích P đã cùng rủ nhau mua ma túy (loại thuốc lá Dominic) bán để kiếm lời. Qua mối quan hệ xã hội, Q biết người đàn ông tên N1 (chưa rõ lai lịch) ở khu vực T, quận H bán loại ma túy này nên đã liên hệ để mua. Mỗi lần gặp N1, Q đều mua 02 bao (bên trong mỗi bao có 07 điếu) với giá 400.000 đồng/bao. Số ma túy trên các đối tượng chia bán lẻ là 80.000đ/ điếu, nếu bán hết sẽ thu lợi 160.000 đồng/ bao. Ngày 10/12/2023, Q liên hệ với N1 mua 02 hộp ma túy tại khu vực đường A với giá 800.000 đồng, Q hẹn N1 khi bán hết sẽ thanh toán tiền. Sau đó, Q mang số ma túy đưa cho P và T1 cất giấu tại phòng trọ có khách thì sẽ mang ra bán.
Trưa ngày 19/12/2023, Nguyễn Quốc Đ rủ Lê Đức H3 (sinh năm: 2003, nơi thường trú: 212 Hạ Lý, Hồ N, Hải Phòng) đi cùng có việc, H3 đồng ý. Khi đến khu vực đầu ngõ B A, Đ, Ngô Q1, Đ gặp P hỏi mua 01 điếu ma túy, nhưng do không còn tiền nên Đ đã đưa chiếc điện thoại Oppo màu tím cho P để làm tin hẹn chiều sẽ quay lại trả 80.000 đồng rồi lấy điện thoại, P đồng ý rồi đưa cho Đ 01 điếu thuốc lá chứa ma túy. Khi vừa nhận điếu ma túy, Đ nhặt 01 túi nilon trên đường, bẻ đôi điếu thuốc lá rồi đổ toàn bộ thực vật khô vào túi nilon thì bị Công an quận N phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 19/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Phương T1 và Nguyễn Thị Hoàng Q đồng thời ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của P, T1, Q tại phòng trọ trong ngõ B A, Đ, Ngô Q1, Hải Phòng thu giữ: 01 vỏ hộp giấy kích thước 1x6x9cm màu xanh, trên mặt có logo chữ Festival; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng đã qua sử dụng của T1.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Lê Đức H3, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Quốc Đ vào ngày 19/12/2023: Âm tính với các chất ma túy .
Kết luận giám định số 1052/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Thực vật khô của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,10 gam, là loại MDMB-FUBINACA. Thực vật khô của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,12 gam, là loại MDMB-FUBINACA. MDMB-FUBINACA là chất ma túy có STT 240, danh mục IIC, thuộc Danh mục các chất ma túy theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Quá trình điều tra T1, Phương Q2 thừa nhận hành vi như đã nêu trên và khai, ngoài lần P bán ma túy cho Đ bị bắt quả tang ngày 19/12/2023 thì trước đó Q2 đã nhiều lần mua ma túy của N1 để các bị cáo bán ma túy lại cho nhiều người nhưng không biết tên tuổi địa chỉ, chỉ nhớ bán cho H3 và Đ cụ thể như sau: Ngày 11 và 13/12/2023, Q2 đã 02 lần bán ma túy cho Đ tại khu vực đầu ngõ B A, mỗi lần 01 điếu ma túy Dominic với giá 80.000 đồng/điếu; Ngày 16/12/2023, Q2 bán cho H3 01 điếu ma túy Dominic với giá 80.000 đồng tại đầu ngõ B A; Ngày 17/12/2023, T1 bán cho Đ 01 điếu ma túy Dominic với giá 80.000 đồng tại phòng trọ; Ngày 18/12/2023, P bán cho Đ 01 điếu ma túy Dominic với giá 80.000 đồng tại khu vực lô B L. Toàn bộ số tiền thu lợi trong các lần bán ma túy, các bị cáo sử dụng chi tiêu sinh hoạt chung.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 1052MT/PC09 bên trong chứa 0,92 gam thực vật khô là ma túy cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím đã qua sử dụng của Đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng của P, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của T1, 01 hộp giấy kích thước 1x6x9cm màu xanh trên mặt có logo chữ Festival đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.
Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P mức án từ 08 năm 03 tháng đến 09 năm 03 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T1 mức án từ 08 đến 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1052MT/PC09 bên trong chứa 0,92 gam thực vật khô là ma túy cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy kích thước 1x6x9cm màu xanh trên mặt có logo chữ Festival.
- -Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng của P, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím đã qua sử dụng của anh Nguyễn Quốc Đ là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- - Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Thị Phương T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- - Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 đã cùng nhau mua ma túy mục đích bán lại kiếm lời. Các bị cáo đã 06 lần bán ma túy, khối lượng ma túy thu giữ được là 2,22 gam, loại MDMB-FUBINACA, trong đó các ngày từ 11 đến 19/12/2023, các bị cáo đã bán 05 lần là 5 điếu ma túy MDMB-FUBINACA cho Nguyễn Quốc Đ; 01 lần bán 01 điếu ma túy MDMB-FUBINACA cho Lê Đức H3 tại các địa điểm là phòng trọ trong ngõ B A, khu vực đầu ngõ B A và khu vực Lô B L, quận N. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 đủ yếu tố cầu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 về tội danh và điều luật áp dụng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về sử dụng chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe của bản thân và của người khác, gây hoang mang cho nhiều gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy thấy cần thiết phải xử nghiêm, buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục.
- - Xét vai trò của các bị cáo:
[5] Trong vụ án này các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 cùng rủ nhau mua ma tuý về bán kiếm lời. Nhưng bị cáo Q là người trực tiếp gặp đối tượng tên N1 để mua ma tuý. Q là người đưa ma tuý cho T1 và P cất ở phòng trọ khi nào có khách thì mang ra bán, tiền thu lợi các bị cáo chi tiêu sinh hoạt chung. T1, Q, P đều trực tiếp bán khi có người hỏi mua; bị cáo Phương tích cực 02 lần bán ma tuý. Vì vậy bị cáo Q phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo P; bị cáo P phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1.
- - Về tình tiết giảm nhẹ.
[6] Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 có thái độ khai báo thành khẩn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt bổ sung:
[7] Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- - Về vật chứng của vụ án:
[8] Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1052MT/PC09 bên trong chứa 0,92 gam thực vật khô là ma túy cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy kích thước 1x6x9cm màu xanh trên mặt có logo chữ Festival. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng của P, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím đã qua sử dụng của anh Nguyễn Quốc Đ.
- - Về án phí:
[9] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Thị Phương T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- - Về quyền kháng cáo:
[10] Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Đối với người đàn ông tên N1 bán ma túy cho bị can Q, đến nay chưa xác định được căn cước lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
[12] Đối với Nguyễn Quốc Đ, Công an quận N đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
[13] Đối với Lê Đức H3, Cơ quan điều tra không thu giữ được điếu thuốc bên trong chứa thực vật khô là ma túy mà H3 đã mua vào ngày 16/12/2023 nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Thị Phương T1.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Thị Phương T1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- - Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1052MT/PC09 bên trong chứa 0,92 gam thực vật khô là ma túy cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy kích thước 1x6x9cm màu xanh trên mặt có logo chữ Festival.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Bích P, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Phương T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím đã qua sử dụng của Nguyễn Quốc Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
- - Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Thị Phương T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng Q, Nguyễn Thị Bích P và Nguyễn Thị Phương T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phương QUỳnh Thảo
