|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/8/2024. V/v trông chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
- Ông Trần Trung Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 377/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/8/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ A, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Bá A1, sinh năm 1984; địa chỉ: Nhà T, A đường N, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 31/7/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ A trình bày:
Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2021 ngày 10/6/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sinh sống và làm việc tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian tới khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, không hiểu nhau, luôn bất đồng quan điểm sống. Do chị A không có việc làm nên nhiều khi mâu thuẫn về vấn đề kinh tế. Chị A và anh A1 đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Chị A xác định không còn tình cảm với anh A1 nên yêu cầu được ly hôn với anh A1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Phạm Hạ V, sinh ngày 29/8/2021. Sau khi ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh A1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/8/2024, bị đơn anh Lê Bá A1 trình bày:
Thống nhất về thời gian chung sống và kết hôn như chị A đã trình bày. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, vợ chồng vẫn hòa thuận, chung sống hạnh phúc và cùng nhau nuôi dạy con chung. Chị A nghe lời gia đình nên mới nộp đơn ly hôn. Đến thời điểm hiện tại, đây là lần thứ 4 chị A nộp đơn. Khoảng giữa tháng 6/2024 chị A đưa con về bên nhà chị A sinh sống và chặn số điện thoại, zalo của anh A1 nên anh A1 không liên lạc được. Anh A1 vẫn còn thương vợ nên đối với yêu cầu khởi kiện của chị A về việc ly hôn thì anh A1 không đồng ý.
Về con chung: Qúa trình chung sống anh A1 và chị A có 01 con chung tên Lê Phạm Hạ V, sinh ngày 29/8/2021. Anh A1 không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A thì anh A1 đồng ý giao con chung Lê Phạm Hạ V cho chị Phạm Thị Mỹ A trực tiếp nuôi dưỡng và sẽ thực hiện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Hiện nay anh A1 làm nghề sửa chữa và mua bán đồ điện tử, thu nhập hàng tháng dao động từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Riêng chị A ở nhà không đi làm, chỉ nấu ăn và đưa đón con đi học.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ngày 05/8/2024, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Phạm Thị Mỹ A không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường T tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị H liên hiệp phụ nữ phường T không biết được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ A, bị đơn anh Lê Bá A1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2021 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 10/6/2021 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị A xác định, thực tế cuộc sống vợ chồng chị có nhiều mâu thuẫn trầm trọng từ nhiều năm nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, không hiểu nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc. Cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh A1. Bản thân anh A1 xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Từ trước tới nay, chị A nghe lời gia đình nên đã nộp đơn ly hôn tại Toà án khoảng ba đến bốn lần. Giữa tháng 6/2024 chị A đưa con về bên nhà chị A sinh sống và chặn hết mọi liên lạc với anh A1. Anh A1 vẫn còn thương vợ nên không muốn ly hôn với chị A. Tuy nhiên, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn, có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng thể hiện qua việc chị A đã nhiều lần nộp đơn ly hôn tại Toà án, anh A1 và chị A đã có thời gian sống ly thân. Anh A1 cũng không đưa ra được phương án nào để hai vợ chồng về đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị A là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Giữa chị Phạm Thị Mỹ A và anh Lê Bá A1 có 01 con chung là cháu Lê Phạm Hạ V, sinh ngày 29/8/2021. Sau khi ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bản thân anh A1 cũng đồng ý giao con chung cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng trong trường hợp Toà án giải quyết cho anh, chị ly hôn. Xét, hiện cháu V đang còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Lê Phạm Hạ V cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng để bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Nghĩa vụ nuôi con là của cả cha lẫn mẹ, khi ly hôn, người không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Phạm Thị Mỹ A yêu cầu anh Lê Bá A1 phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh A1 cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Phạm Thị Mỹ A đối với anh Lê Bá A1.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ A chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ A về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Lê Bá A1.
1.1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ A được ly hôn với anh Lê Bá A1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2021 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 10/6/2021).
2.2/ Về con chung: Anh Lê Bá A1 giao con chung Lê Phạm Hạ V, sinh ngày 29/8/2021 cho chị Phạm Thị Mỹ A trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Mỹ A phải tạo điều kiện cho anh Lê Bá A1 thăm nom con, không ai có quyền cản trở anh Lê Bá A1 thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
2.3/ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Lê Bá A1 phải cấp dưỡng nuôi cháu Lê Phạm Hạ V, sinh ngày 29/8/2021 số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu V thành niên (đủ 18 tuổi).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2.4/ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001362 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Anh Lê Bá A1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
4/ Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 130/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 130/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
