Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HSST

Ngày: 22/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nhiến

Bà Ngô Thị Như Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Lê - Kiểm sát viên

Ngày 22/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST-HS ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/8/1980 tại huyện Q - TP Hà Nội; Nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định; Con bà Kiều Thị T, sinh năm 1952; Có chồng là Nguyễn Duy L, sinh năm 1982; Có 04 (bốn) con: Con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Gia đình có 03 (ba) chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 18/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình tuyên phạt 48 (bốn mươi tám) tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, theo bản án số 77/HSST ngày 18/8/2022 (bị cáo chưa chấp hành án phạt tù do hoãn thi hành án vì nuôi con dưới 36 tháng tuổi).

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 27/6/2023, không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 6 năm 2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1982; (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Người chứng kiến: Ông Dương Thế C, sinh năm 1958; (vắng mặt, không có lý do);

T1 tại: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 27/6/2023, Nguyễn Thị N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 28G1 – 126.92 đi từ nhà tại khu vực tổ C phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đến khu vực B thuộc phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình gặp một người đàn ông lạ mặt, N đưa cho người đàn ông đó 3.000.000 (ba triệu) đồng, người đàn ông đưa lại cho N một bọc giấy bên trong có các túi nilon chứa ma túy. Sau khi mua được, N cất giấu số ma túy đó vào trong quần lót và lên xe mô tô đi về. Khi đến khu vực tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy. N đã tự nguyện khai nhận và giao nộp toàn bộ số ma túy trên cho Tổ công tác thu giữ, niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở Cơ quan điều tra để làm việc theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 287-A/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

" - Hai viên nén màu hồng kí hiệu M1 trong phong bì niêm phong, một mặt ghi tên đối tượng Nguyễn Thị N, sinh năm 1980, HKTT và chỗ ở: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tổng khối lượng 0,22g (không phảy hai mươi hai gam), là ma túy, loại Methamphetamine.”

Tại bản kết luận giám định số 287-B/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

“- Các viên nén màu hồng ký hiệu M2, M3, M4, M5, M6, M7, G1, G2, G3, G4, M21 trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi tên đối tượng Nguyễn Thị N, sinh năm 1980, HKTT và chỗ ở: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình gửi

giám định có tổng khối lượng 22,58g (Hai mươi hai phẩy năm mươi tám gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng ký hiệu M8, M9, M10, M11, M12, M13, M14, M15, M16, M17, M18, M19, M20 trong phong bì niêm phong, một mặt ghi tên đối tượng Nguyễn Thị N, sinh năm 1980, HKTT và chỗ ở: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tổng khối lượng 2,02g (Hai phẩy không hai gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

Methaphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ".

Tổng khối lượng ma túy bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ của Nguyễn Thị N theo kết luận điều tra là 24,82g (Hai mươi tư phẩy tám mươi hai gam) loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị N:

- 01 (một) bọc giấy bên trong có chứa 02 (hai) túi nilon gồm: Một túi màu trắng chứa 20 gói nilon (trong đó có 07 (bảy) gói chứa viên nén màu hồng, 09 (chín) gói chứa chất tinh thể màu trắng, 04 (bốn) gói chứa chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng) và một túi màu hồng bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng, tất cả đều là ma túy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 28G1 – 126.92 số khung RLHJA3228EY062126, số máy: JA32E-0062253, đã qua sử dụng.

Bản Cáo trạng số 123/CT-VKS, ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Nguyễn Thị N về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, không kêu oan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Duy L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong đơn anh L cũng xác nhận việc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 28G1 – 126.92 đã qua sử dụng là xe anh mua lại của cửa hàng kinh doanh xe mô tô cũ và không có giấy tờ mua bán đối với chiếc xe này. Chủ hiệu bán xe mô tô do anh L là anh Nguyễn Văn U có xác nhận việc bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Duy L nhưng khi mua lại xe của chị Bùi Thị H (là người đăng ký chủ xe) không có giấy tờ mua bán. Cơ quan cảnh sát điều tra hiện tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nên sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật nên anh L đồng ý với quan điểm trong kết luận điều tra và không có ý kiến, không đề nghị xem xét giải quyết tại phiên tòa. HĐXX không đề cập giải quyết về tài sản này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo Nguyễn Thị N. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự, tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thị N phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 11 (mười một) năm tù đến 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Đề nghị tổng hợp hình phạt tại bản án số 77/HSST ngày 18/8/2022 của Tòa án thành phố H, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án theo quy định của pháp luật, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam của cả hai lần xét xử.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 – Có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra: Ngày 27 tháng 6 năm 2023. Tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong là chất Nhà nước cấm lưu hành.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 28G1 – 126.92 đã qua sử dụng, cơ quan điều tra do chưa xác định chính xác chủ sở hữu nên hiện lưu kho vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông lạ không rõ họ tên, địa chỉ, đã bán ma túy cho Nguyễn Thị N trưa ngày 27/6/2023, do cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng chưa phát hiện, làm rõ được đối tượng có đặc điểm như mô tả nên chưa thể xem xét xử lý trong vụ án này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến tranh luận:

Bị cáo nhận tội và nhưng thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị cao quá, xin được xem xét cho mức thấp nhất có thể.

Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng mức án đề nghị đã xem xét đến hoàn cảnh bị cáo phải nuôi bốn con trong đó có hai con bệnh nặng. Tuy nhiên, do bị cáo không hiểu biết pháp luật nên thấy mức hình phạt là cao. Nhưng Viện kiểm sát đã

đề nghị mức thấp nhất có thể, tạo cơ hội cho bị cáo tiếp tục cải tạo để sớm trở về hoàn lương, nuôi con bệnh tật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận thêm với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là phạm tội, bị cáo rất ăn năn. Viện kiểm sát đề nghị mức án cho bị cáo cao quá, không biết khi nào mới về nuôi con. mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo được chăm nuôi con bệnh tật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27/6/2023 Nguyễn Thị N đã có hành vi mua trái phép tổng khối lượng 24,82g (hai mươi bốn phẩy tám mươi hai gam), là ma túy, loại Methamphetamin tại bến xe trung tâm thành phố H và đang trên đường về nhà thì bị bắt quả tang tại khu vực tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Qua điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi mua ma túy của người đàn ông lạ, không biết địa chỉ và tàng trữ trên người khi trên đường về nhà nhằm mục đích bán lẻ cho các con nghiện khi bị bắt quả tang và bị thu giữ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã cấu thành “Tội mua bán trái phép chất ma túy” Bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị N theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, nhận thức được tác hại của ma túy, biết việc mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng nhằm mục đích kiếm tiền bất chính và nhanh chóng, bị cáo đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã mua ma túy nhằm mục đích bán cho những người nghiện ma túy. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi

phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị N có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị cáo có một tiền án, chưa chấp hành bản án năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, được hoãn thi hành án hình sự sơ thẩm vì nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục tái phạm.

Về nhân thân: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn: bị cáo có 04 (bốn) con thì 02 (hai) con bệnh nặng (teo cơ tụy, chậm phát triển thần kinh vận động, liệt nửa người), 01 (một) con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo, áp dụng mức hình phạt thấp nhất có thể, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và Nhà nước khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 11 (mười một) năm tù đến 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù là có xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, xem xét đến hoàn cảnh gia đình đặc biệt của bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo là lao động tự do công việc không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản do vậy không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị N theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định bên trong là ma túy, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 – Có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra: Ngày 27/6/2023. Tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 28G1 – 126.92 số khung RLHJA3228EY062126, số máy: JA32E-0062253, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc trong xe, là tài sản bị cáo khai mượn của chồng là anh Nguyễn Duy L, nhưng Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được chủ sở hữu nên hiện đang lưu giữ tại cơ quan cảnh sát điều tra chờ xác minh xử lý theo quy

định. Anh Nguyễn Duy L cũng xác nhận không có giấy tờ mua bán và đồng ý chờ kết quả điều tra làm rõ, cơ quan điều tra xử lý theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông lạ mặt, không xác định được họ tên, địa chỉ mà Nguyễn Thị N khai đã bán ma túy cho bị cáo trưa ngày 27/6/2023, do cơ quan cảnh sát điều tra chưa điều tra, xác minh được nên chưa thể xem xét xử lý trong vụ án này. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Tổng hợp hình phạt của hai bản án: Số 77/HS-ST ngày 18/8/2022 và bản án số 135/HS-ST ngày 22/11/2023) của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình: Buộc Nguyễn Thị N phải chấp hành tổng hình phạt là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 04/4/2023 theo bản án số 77/HSST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

3. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định bên trong là ma túy, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 – Có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra: Ngày 27/6/2023. Tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa theo biên bản giao nhận vật chứng số 16BB/24 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND thành phố Hòa Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Hòa Bình;
  • - CQCSĐT Công an TP Hòa Bình;
  • - CQ THAHS Công an TP Hòa Bình;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hòa Bình;
  • - Bị cáo; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2023/HSST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 130/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fhjhk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger