Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày: 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thạch Thị Lan Nhung.
  2. Bà Trần Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Tuấn – Là Thư ký Tòa án của

Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn K – Tên gọi khác: không; sinh năm: 1960; tại: Hải Dương; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 10/10; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị C; có vợ Đặng Thị H1 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/12/1987, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày 22-12-1987 về tội “Chiếm đoạt trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án phúc thẩm hình sự số 268 ngày 22-12-1987; Ngày 08/02/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Làm giải con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn N (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966 (Là vợ của bị hại). Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người làm chứng:

2

  • + Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1969. Có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1975. Có mặt
  • + Chị Đinh Nguyễn Minh T, sinh năm 2009. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của chị Định Nguyễn Minh T: Ông Đinh Văn T1 (bố đẻ), bà Nguyễn Thị Kim H3 (mẹ đẻ). Cả hai đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/09/2023, ông Bùi Văn K, sinh năm 1960, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng điều khiển xe ô tô BKS 49A-262.00 chở theo vợ là bà Đặng Thị H1, sinh năm 1969, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngồi bên ghế phụ lưu thông trên đường nhựa ĐT725 theo hướng từ xã T, huyện L đi xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Ông K điều khiển xe ô tô lưu thông bên phải đường và đi với tốc độ khoảng 50 km/h (theo lời trình bày của ông K), có bật đèn chiếu sáng. Khi đi đến đoạn đường nhựa tại KM 37, ĐT725 thuộc thôn T, xã T, huyện L thì ông K quan sát phía trước có 01 vật màu đen nằm ở phần đường bên phải theo hướng lưu thông của ông K cách đầu xe ô tô của ông K điều khiển khoảng 10m. Lúc này, ông K nghĩ vật màu đen là bao tải rơi ở trên đường nên không giảm tốc độ và dừng xe để quan sát mà tiếp tục điều khiển xe ô tô tiến về trước với tốc độ khoảng 50 Km/h. Đến khi xe ô tô của ông K cách vật màu đen khoảng 3m thì ông K mới nhìn rõ vật màu đen không phải bao tải mà là một người đàn ông trung niên, sau này được biết là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L say rượu nằm ở đường. Do khoảng cách gần, ông K không xử lý kịp nên đã va chạm vào người của ông N. Sau va chạm, ông K điều khiển xe ô tô chạy lên phía trước 38,2m thì dừng lại. Hậu quả: ông Nguyễn Văn N tử vong tại chỗ.

Về kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản:

Ngày 23/9/2023, Phòng K1, Công an tỉnh L có bản kết luận giám định tử thi số 164/KLGĐTT-PC09, kết luận: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Văn N do chấn thương sọ não.

Ngày 22/9/2023, Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện L tiến hành thổi nồng độ cồn đối với ông Bùi Văn K, kết quả là 0.000 mg/l; tiến hành test nhanh ma tuý đối với ông K kết quả là âm tính.

Ngày 23/09/2023, Bệnh viện Đa khoa tỉnh L có phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu đối với ông Nguyễn Văn N là 129.45 mmol/l.

Ngày 31/10/2023, Phòng K1, Công an tỉnh L có bản kết luận giám định số 1132/KL-KTHS, kết luận: Giấy phép lái xe số [...] đề ngày 24/8/2016, họ tên Bùi Văn K, năm sinh 1960 là thật.

Ngày 23/11/2023, Phòng K1 Công an tỉnh L có bản kết luận giám định số 1180/KL-KTHS, kết luận:

3

  • - Dấu vết va chạm:
    • + Dấu vết trượt, bám dính chất sinh học (ký hiệu A) đoạn 1/3 giữa trục trước xe ô tô biển số 49A - 262.00 phù hợp với dấu vết rách da, vỡ xương trán (ký hiệu M) nạn nhân Nguyễn Văn N.
    • + Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 49A - 262.00 với phương tiện khác.
  • - Chiều hướng lưu thông: Xe ô tô biển số 49A - 262.00 đang lưu thông theo hướng từ xã T về xã T, huyện L.
  • - Tốc độ phương tiện: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển số 49A-262.00.
  • - Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường: Không đủ cơ sở xác định vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 49A – 262.00 với nạn nhân Nguyễn Văn N.

Ngày 06/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có bản kết luận định giá tài sản số 138/KLĐG, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS: 49A - 262.00 là 100.000 đồng (Một trăm ngàn đồng).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô, BKS 49A-262.00, nhãn hiệu Huyndai, số loại Santafe, màu bạc, số khung: 81XDHN009204, số máy: D4HBHU582327; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng kiểm số DA 4512886; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 046234, tên Bùi Văn K; 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng B2, tên Bùi Văn K, ngày cấp: 24/08/2016, nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh L, có giá trị đến 24/08/2026. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Bùi Văn K, sinh năm: 1960, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 48/QĐ-CQĐT ngày 12/12/2023 bằng hình thức trả lại tài sản trên cho ông Bùi Văn K.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị can Bùi Văn K đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Nguyễn Văn N số tiền 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Văn N là bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1966, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bùi Văn K.

Đối với ông Nguyễn Văn N đã có hành vi sử dụng rượu bia và nằm trên đường nhựa đã gây cản trở giao thông cho các phương tiện giao thông đi trên đường. Hành vi của ông Nguyễn Văn N đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Tuy nhiên người thực hiện hành vi vi phạm là ông Nguyễn Văn N đã chết, do đó không xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKSLH ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị can Bùi Văn K về tội “Vi phạm

4

quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 12 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô, BKS 49A-262.00, nhãn hiệu Huyndai, số loại Santafe, màu bạc, số khung: 81XDHN009204, số máy: D4HBHU582327; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng kiểm số DA 4512886; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 046234, tên Bùi Văn K; 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng B2, tên Bùi Văn K, ngày cấp: 24/08/2016, nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh L, có giá trị đến 24/08/2026. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Bùi Văn K, sinh năm: 1960, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 48/QĐ-CQĐT ngày 12/12/2023 bằng hình thức trả lại tài sản trên cho ông Bùi Văn K nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/9/2023, bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô BKS 49A-

5

262.00 chở theo vợ là bà Đặng Thị H1 ngồi bên ghế phụ lưu thông trên đường nhựa ĐT725 theo hướng từ xã T, huyện L đi xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo điều khiển xe ô tô lưu thông bên phải đường và đi với tốc độ khoảng 50 km/h), có bật đèn chiếu sáng. Khi đi đến đoạn đường nhựa tại KM 37, ĐT725 thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị cáo quan sát phía trước có 01 vật màu đen nằm ở phần đường bên phải theo hướng lưu thông của bị cáo cách đầu xe ô tô của bị cáo điều khiển khoảng 10m. Lúc này, bị cáo nghĩ vật màu đen là bao tải rơi ở trên đường nên không giảm tốc độ và dừng xe để quan sát mà tiếp tục điều khiển xe ô tô tiến về trước với tốc độ khoảng 50 Km/h. Đến khi xe ô tô do bị cáo điều khiển cách vật màu đen khoảng 3m thì bị cáo mới nhìn rõ vật màu đen không phải bao tải mà là một người đàn ông trung niên, sau này được biết là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L say rượu nằm ở đường. Do khoảng cách gần, bị cáo không xử lý kịp nên xe bị cáo điều khiển đã va chạm vào người của ông N. Hậu quả vụ tại nạn làm ông Nguyễn Văn N tử vong tại chỗ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản hiện trường, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/9/2023, tại đoạn đường nhựa tại KM 37, ĐT 725 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là đoạn đường nhựa rộng 7 mét, mặt đường bằng phẳng, giữa đường có vạch kẻ nét đứt màu vàng chia đôi hai phần đường riêng biệt, là đoạn đường dốc theo hướng từ xã T đi xã T, cong cua về phía bên phải, phía bên phải đường có đèn chiếu sáng. Khi phát hiện một chướng ngại vật trên đường, bị cáo Bùi Văn K đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn mà tiếp tục điều khiển xe ô tô tiến về trước. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT gây hậu quả 01 người chết. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra. Hành vi của bị cáo gây tổn hại đến tính mạng cho người khác, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân, không gì bù đắp nổi và gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương nơi xảy ra vụ án nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1

6

Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực động viên thăm hỏi gia đình bị hại và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều hoạt động thiện nguyện. Bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6]. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực thăm hỏi, động viên gia đình bị hại, bồi thường khắc phục thiệt hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại. Bị hại cũng có lỗi. Mặc dù bị cáo đã 2 lần bị kết án nhưng lần kết án gần nhất cách nay đã trên 20 năm. Bị cáo hiện là người cao tuổi nên thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chế độ án treo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát để nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.

[7] Đối với bị hại ông Nguyễn Văn N đã có hành vi sử dụng rượu bia và nằm trên đường nhựa đã gây cản trở giao thông cho các phương tiện giao thông đi trên đường. Hành vi của ông Nguyễn Văn N đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Tuy nhiên người thực hiện hành vi vi phạm là ông Nguyễn Văn N đã chết, do đó không xem xét xử lý.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây ra tai nạn bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 90.000.000đ. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời đối với số tiền thiệt hại chiếc xe ô tô là 100.000đ bị cáo cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: vật chứng cơ quan điều tra thu giữ là 01 (một) xe ô tô, BKS 49A-262.00, nhãn hiệu Huyndai, số loại Santafe, màu bạc, số khung: 81XDHN009204, số máy: D4HBHU582327; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng kiểm số DA 4512886; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 046234, tên Bùi Văn K; 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng B2, tên Bùi Văn K, ngày cấp: 24/08/2016, nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh L, có giá trị đến 24/08/2026. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Bùi Văn K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã nhận lại toàn bộ tài sản, giấy tờ trên và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phì hình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

7

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bùi Văn K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Kiên

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger