|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2023/DS-ST
Ngày: 21-8-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Sang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Vũ Thị Hiệp.
- Bà Nguyễn Thị Kim Loan.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quân – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2022/TLST–DS ngày 15/11/2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-DS ngày 30/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa 73/2023/QĐST-DS ngày 26/7/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ trụ sở: Đường N, phường Võ Thị S, Quận A, TP.HCM.
Địa chỉ liên lạc: Đường N, phường Võ Thị S, Quận A, TP.HCM.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Bảo Ngọc, văn bản uỷ quyền số 2023/2023/UQ-TGĐ ngày 10/7/2023 (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Quang M, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Đường Đ, Phường A, Quận B, TP. Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 21/06/2019 ông Minh có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.4%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Minh đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.308.273.600 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Minh đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.229.167.207 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Minh vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Minh vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 112.395.270 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 21/8/2023, ông Minh còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm):
- Nợ gốc : 112.395.270 đồng
- Lãi quá hạn : 88.207.596 đồng
- Tổng cộng : 200.602.866 đồng
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 112.395.270 đồng với lãi suất quá hạn là 3.6%/tháng (2.4% * 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Minh, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Minh vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn ông Lê Quang M:
- Buộc ông Lê Quang M phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/8/2023 là 200.602.866 đồng, trong đó:
- Nợ gốc : 112.395.270 đồng
- Lãi quá hạn : 88.207.596 đồng
- Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/8/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.
- Bị đơn: Ông Lê Quang M vắng mặt trong tất cả các lần triệu tập của Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ hòa giải, xét xử nên không có lời trình bày.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn – ông Phan Bảo Ngọc có bản tự khai vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Quang M vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm: thực hiện đúng nguyên tắc xét xử, đúng thành phần HĐXX, đúng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Về phần thủ tục, phần hỏi và phần tranh luận, HĐXX cũng thực hiện đúng quy định.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 275, 357, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của HĐTP TAND tối cao; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền 200.602.866 đồng cho nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trình bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Hội đồng xét xử nhận định:
[Về tố tụng:
- Thẩm quyền loại việc:
Ông Lê Quang M ký Hợp đồng Thẻ tín dụng để tiêu dùng cá nhân. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc tranh chấp về Hợp đồng dân sự vay tài sản.
- Thẩm quyền lãnh thổ:
Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 14, Quận 6 như sau: “Đương sự Ông Lê Quang M có hộ khẩu thường trú tại 80/4/59 Tân Hoà Đông, Phường 14, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh...”
Xét, nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ thuộc khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 nên Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý, giải quyết là đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các lần lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/3/2023, ngày 19/6/2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để tham gia phiên tòa ngày 26/7/2023 và 21/8/2023 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Ông Lê Quang M là đúng với quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thời hiệu khởi kiện vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án thì các bên không yêu cầu Tòa án xem xét thời hiệu nên Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự.]
[Về nội dung:
Theo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngày 21/6/2019 ông Minh có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.4% / tháng (lãi suất trong hạn).
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Minh đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.308.273.600 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Minh đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.229.167.207 đồng. Vậy số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 21/8/2023 là 200.602.866 đồng, trong đó nợ gốc 112.395.270 đồng, nợ lãi quá hạn 88.207.596 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi thực hiện các giao dịch, bị đơn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà còn nợ lại số tiền gốc là 112.395.270 đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, ngày 06/11/2021 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn được quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng.
Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng; Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 466, 468 Bộ luật dân sự 2015, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ khoản nợ 200.602.866 đồng như đã tính chi tiết ở phần trên là có cơ sở chấp nhận.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.]
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; khoản 2 Điều 227; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Cụ thể:
- Buộc Ông Lê Quang M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ: 200.602.866 (hai trăm triệu, sáu trăm lẻ hai ngàn, tám trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc: 112.395.270 đồng, nợ lãi quá hạn 88.207.596 đồng.
- Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Ông Lê Quang M còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/8/2023 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ nêu trên.
- Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Quang M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 10.030.143 đồng.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.780.975 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0012712 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Sang |
Bản án số 130/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 130/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN
