Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2025/DSPT

Ngày: 08/12/2025

V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung
Ông Lê Văn Quân

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2024/TLPT-DS ngày 18/10/2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3-Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 105/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 35/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958

Địa chỉ: Số B đường L, TDP T, phường S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952

Địa chỉ: Số nhà C, Phố N, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 2000

Địa chỉ: Khu phố A, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1964

Địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Thanh Hóa

Chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã G, huyện Đ, (nay là thôn D, xã Đ), tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu A, xã V, tỉnh Phú Thọ. Vẳng mặt

Người làm chứng:

  • - Ông Đình Phan H, sinh năm 1954

Địa chỉ: Số B đường L, TDP T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.

  • - Ông Lê Văn L, sinh năm 1965

Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Nguyễn Văn N sinh năm 1928, chết năm 1976 và cụ Nguyễn Thị Ê sinh năm 1925, chết năm 2014. Cụ N và Cụ Ê sinh được 04 người con là Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị D2. Hai cụ khi chết để lại cho các con thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 672 m², hiện tại là 669.7m² tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa).

Năm 1976 cụ N chết, năm 2014 cụ Ê chết nay đã 11 năm, nhà đất của bố mẹ không có người ở, đến ngày giỗ hàng năm chỉ có mình bà D về nhang hương tưởng nhớ công ơn bố mẹ sinh thành. Ngày 18/02/2023, bốn anh em đã tổ chức cuộc họp tại nhà riêng của bà D thường trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố S thống nhất, nhất trí 100% (4/4) việc phân chia tài sản đất ở chia đều cho 4 người con có quyền được hưởng, trai cũng như gái theo luật định. Tuy nhiên thời điểm đó bà D1 và bà D2 từ chối nhận di sản thừa kế của bố mẹ. Bà D được phân công có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan chức năng để làm thủ tục phân chia, ý thức đó mọi người đã tự giác gửi đến bà các giấy tờ tùy thân như căn cước công dân, giấy khai sinh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng tử, hình ảnh mộ chí của bố mẹ. Bà D đã tiến hành trình báo đến cơ quan chức năng từ cơ sở gồm: Địa chính - Tư pháp xã T, Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, và đã có kết quả đo đạc phân chia: Bà D và ông Nguyễn Văn T được chia như sau: Ông T được hưởng 20m mặt đường còn bà D hưởng 8m mặt đường.

Sau đó ông Nguyễn Văn T đột nhiên thay đổi không hợp tác cùng ký các văn bản để phân chia di sản mà trước đó ông đã đồng ý và giao cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các loại giấy tờ tuỳ thân để làm thủ tục. Bà D đã làm đơn đề nghị đến UBND xã T và được UBND xã triệu tập đến để hòa giải cùng ông T nhưng không thành.

Vì vậy bà D đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa phân chia di sản thừa kế mà cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị Ê để lại là thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12 cho 3 người con (vì bà D1 từ chối nhận thừa kế), tổng diện tích còn lại 669,7m², địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa), ngôi nhà cấp 4 xuống cấp không tính giá trị sử dụng. Về phần kỷ phần bà D được hưởng từ bố mẹ bà D xin được nhận giá trị bằng hiện vật là đất ở.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông Nguyễn Văn T là con trai của cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị Ê. Năm 2009, khi cụ Ê còn minh mẫn tỉnh táo đã lập bản di chúc có chữ ký hai người làm chứng và tất cả con cháu trong nhà thống nhất với nội dung để lại mảnh đất diện tích 672m² tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa) cho ông T quản lý sử dụng, thờ tự gia tiên chứ không được bán đi. Bà D cũng đồng thuận và kí vào bản di chúc, từ năm 2009 đến nay không có tranh chấp gì.

Nay bà D làm đơn yêu cầu chia di sản thừa kế thì ông T yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn N vì cụ N đã chết từ năm 1976. Đối với di sản cụ Ê để lại thì cụ Ê đã có di chúc, di chúc lập thời điểm đó có các con của cụ Ê ký thừa nhận. Việc bà D cho rằng khi lập di chúc vắng mặt bà D2 thì theo quan điểm của bị đơn khi lập di chúc không cần có mặt đầy đủ các con. Vì vậy ông T yêu cầu Tòa án công nhận bản Di chúc lập ngày 08/03/2009 của cụ Nguyễn Thị Ê là hợp pháp.

Về việc bà D cho rằng ông T không hương hỏa cho các cụ là không đúng vì từ trước đến nay ông T cùng con trai vẫn về thăm nhà và hương khói. Ông T xây dựng nhà tôn là vì căn nhà cấp 4 của 02 cụ đã xuống cấp có nguy cơ sụp nên ông T mới xây dựng nhà tôn để bảo vệ bàn thờ chứ không có ý định lấn chiếm đất. Trước đây vì điều kiện đường xá xa xôi nên ông T đã nhờ người quản lý, chăm sóc nhà, đất, vườn là ông Lê Văn L, ông L cũng có bản trình bày ý kiến thừa nhận ông T nhờ ông trông coi nhà. Ông T cũng đã nhiều lần đề đạt vấn đề sửa sang, xây dựng nhà thờ với các thành viên trong gia đình nhưng do bà D không thống nhất về vấn đề chia đất nên bị cản trở.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ý kiến bà Nguyễn Thị D2: Bà Nguyễn Thị D2 là con gái của cụ ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1928 chết năm 1976, cụ bà là Nguyễn Thị Ê sinh năm 1925, chết năm 2014. Bố mẹ bà sinh được 04 người con là Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị D2. Bố mẹ chết để lại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12 cho các con, địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 15/5/2025 bà D2 nhận được thông báo của Hội đồng định giá đất và tài sản trên đất. Bà D2 đề nghị với Tòa án về nguyện vọng nhận thừa kế của bố mẹ để lại như sau: Bà D2 là con gái thứ 4 trong gia đình có 4 anh, chị, em. Bà D2 có nguyện vọng nhận lại phần đất thừa kế của mình để làm nhà thờ, không nhận tiền, sau đó bà D2 đề nghị phần đất thừa kế bà D2 được hưởng bà D2 tặng toàn bộ kỷ phần thừa kế cho ông Nguyễn Văn T, ông T có trách nhiệm hương khói cho bố mẹ, ông bà tổ tiên. Cùng ngày 08/9/2025 bà D2 hủy bỏ văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đã lập ngày 12/5/2023.

Bà Nguyễn Thị D1 trình bày: Bà là con gái của cụ ông Nguyễn Văn N sinh năm 1928, chết năm 1976, cụ bà là Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1925, chết năm 2014. Bố mẹ bà sinh được 04 người con là Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị D2. Bố mẹ chết để lại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12 cho các con, tổng diện tích 672 m², địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa). Hiện nay bà D khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại bà đồng ý với yêu cầu của bà D, đổi với kỷ phần bà D1 được hưởng bà từ chối nhận và đề nghị Tòa án chia đều cho anh chị em của bà. Đối với bản di chúc ông T xuất trình, bà cho rằng đây không phải là di chúc, nội dung văn bản chỉ là nói đến việc mua bán cây xà cừ trên đất cho bà với giá 8.000.000đ, chứ không liên quan gì đến việc mẹ bà định đoạt tài sản.

3. Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hoá đã Quyết định:

Căn cứ vào các Điều 609, 610, 611, 612; 613, 616, 618; 620, 623, 624, 630, 649, 650; 651, 658 và Điều 660 của của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 điều 12, Điểm a Khoản 7 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án; Nghị Quyết 81/2025/UBTVQH 15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

Tuyên Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ê để lại là ½ thửa đất ở số 172, tờ bản đồ số 12 có diện tích là 334.85m² tại thôn T, xã T, huyện T. tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa) trị giá là 837.125.000đ (Tám trăm ba bảy triệu một trăm hai lăm nghìn đồng).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về áp dụng thời hiệu đối với phần tài sản của cụ Nguyễn Văn N là ½ diện tích thửa đất ở số 172, tờ bản đồ số 12 có diện tích là 334.85m² tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

Chia cụ thể như sau:

Trích công sức quản lý giữ gìn di sản cho ông Nguyễn Văn T là 34,85m², trị giá 87.150.000đ (Tám bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Chia cho bà Nguyễn Thị D được quyền sử dụng đất có diện tích 119,9m² đất ở thuộc thửa đất số 172 tờ bản đồ số 12; trên thửa đất có tài sản gồm: 01 Nhà cấp 4 lợp ngói đã xuống cấp, bà D được quyền tháo dỡ.

Bà D có trách nhiệm giao lại bằng giá trị tiền cho ông T là 19,9m² x 2.500.000đ/m² = 49.750.000đ (Bốn chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Chia cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng đất 214,95m² thuộc thửa đất số 172 tờ bản đồ số 12; Trên thửa đất có tài sản gồm: 01 Nhà cấp lợp tôn do ông T xây dựng, 01 mái tôn và một giếng khơi. Phần diện tích đất còn lại 334.85m² ông Nguyễn Văn T tiếp tục được quyền sử dụng.

(Có sơ đồ giao đất kèm theo).

Người được giao quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

  1. Về chi phí thẩm định và định giá, án phí: Chi phí thẩm định và định giá bà Nguyễn Thị D chịu 1.390.000đ (Một triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) bà D đã nộp đủ. Ông Nguyễn Văn T chịu 2.780.000đ (Hai triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng), bà Nguyễn Thị D đã nộp tạm ứng trước ông T có trách nhiệm trả lại số tiền thẩm định, định giá cho bà Nguyễn Thị D.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, Luật Thi hành án dân sự, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

4. Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 19/9/2025, Tòa án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị D với nội dung: Không đồng ý với bản án số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 -Thanh Hoá tuyên xử với lý do:

1. Toà án sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ các chứng cứ của các bên đã cung cấp để chứng minh quyền thừa kế hợp pháp của mình đối với khối di sản.

Bố tôi chết năm 1976, thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12, diện tích 672m² do mẹ tôi là người trực tiếp quản lý và sử dụng. Theo hồ sơ đo đạc 299 năm 1985 thửa đất mang tên mẹ tôi, đến năm 1996 mẹ tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và đến năm 2009 cấp đổi đồng loạt theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ bà Nguyễn Thị Ê (là mẹ đẻ tôi) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL269781, ngày cấp 10/12/2009. Vị trí thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12, diện tích 672m².

Như vậy hộ bà Nguyễn Thị Ê (mẹ tôi) đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó bản án sơ thẩm không đả đụng gì đến việc hộ bà Nguyễn Thị Ê đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này dẫn đến việc hiểu lầm rằng thửa đất chưa có giấy CNQSD đất nên toà cho rằng thời hiệu phân chia di sản do bố tôi để lại đã hết thời hiệu (tức từ bố tôi chết năm 1976). Việc căn cứ như vậy là không đúng bởi lẽ: khi thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ê, phần di sản của ông Nguyễn Văn N (là bố tôi) đã được phân chia cho hộ bà Nguyễn Thị Ê (trong đó hộ bà Nguyễn Thị Ê được xác định gồm mẹ tôi và 4 anh chị em chúng tôi), đến năm 2014 mẹ tôi chết, thì quyền thừa kế theo pháp luật là 04 anh chị em chúng tôi.

2. Việc xác định di sản thừa kế không đầy đủ, dẫn đến việc chia không đúng gây thiệt hại đến quyền lợi của tôi.

Căn cứ Luật đất đai số số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024 tại điều 3 khoản 21 nêu rõ “...giấy CNQSD đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người đang sử dụng đất. ... và khoản 25 điều 3 nêu rõ “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày luật này có hiệu lực thi hành."

Vì vậy toà sơ thẩm xác định ½ di sản là của bố tôi đã hết thời hiệu và giao lại cho ông Nguyễn Văn T quản lý là không đúng quy định của pháp luật. Vì bố tôi chết năm 1976, mẹ tôi là người trực tiếp quản lý và sử dụng, đến năm 1996 thì đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Ê là mẹ tôi.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa về lời tuyên trong Quyết định để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí phúc thẩm: Bà D được miễn án phí dân sự phúc thẩm với lý do là người cao tuổi.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị D nộp đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bà D đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Xét các nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị D:
  • [2.1] Về thời hiệu khởi kiện:

Cụ Nguyễn Văn N chết năm 1976, cụ Nguyễn Thị Ê chết năm 2014.

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm và đối với động sản là 10 năm. Ngày 23/10/2024 nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N và cụ Ê.

Sau khi Toà án thụ lý vụ án, bị đơn đã yêu cầu Toà án xem xét về thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ N. Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”.

Cụ N chết năm 1976 đến nay đã hơn 40 năm. Đối chiếu với quy định trên thì thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ N đã hết, nhưng thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ Ê vẫn còn.

  • [2.2] Về yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn

- Về di sản thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận, cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị Ê có tài sản chung là thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 672 m², hiện tại là 669.7m² tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 10//12/2009, UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã cấp Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê. Ngày 04/5/2023, bà Nguyễn Thị D có đơn xin xác nhận thành viên trong hộ gia đình, Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã xác nhận “Thời điểm năm 2009, hộ bà Nguyễn Thị Ê chỉ có một nhân khẩu là bà Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1925”. Như vậy thời điểm bà Ê được cấp Giấy chứng nhận QSD đất năm 2009, các con của bà Ê không có trong danh sách hộ gia đình. Do đó xác định đây là di sản thừa kế của cụ N và cụ Ê để lại. Di sản thừa kế của mỗi cụ là ½ thửa đất.

Cụ Nguyễn Văn N chết ngày 17/11/1976, đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện đã quá 30 năm.

Sau khi Toà án thụ lý vụ án, bị đơn đã có yêu cầu phản tố, đề nghị Toà án xem xét về thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ N.

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó...”.

Do thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N đã hết. Phần của cụ N là ½ khối di sản, thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với người quản lý di sản: Ông Nguyễn Văn T là con trai duy nhất của cụ N và cụ Ê. Sau khi cụ N chết, cụ Ê ở trên thửa đất này. Ông Nguyễn Văn T mặc dù không ở tại địa phương nhưng ông vẫn thường xuyên về quê, khi cụ Ê già yếu, ông T là người chăm sóc cụ Ê cho đến khi cụ Ê chết. Theo trình bày của ông T và người làm chứng là ông L thì ông T đã thuê ông L quản lý, chăm sóc nhà, đất, vườn tược và có trả công cho ông L. Hàng năm ông Tự V về quê để hương khói tổ tiên. Ngoài ông T ra, những người được hưởng thừa kế khác không có ai ở trên đất và quản lý di sản này.

Do đó, giao phần di sản của cụ N là ½ thửa đất cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng.

Còn lại ½ thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12 thuộc Thành Thượng, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa); Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 10/12/200 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ê.

Theo biên bản định giá ngày 10/4/2025 của Hội đồng định giá như sau: Về đất diện tích ở 669,7m² x 2.500.000đ/m² = 1.674.250.000đ (Một tỷ sáu trăm bảy tư triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Vì vậy di sản của cụ Nguyễn Thị Ê để lại là 669,7m²: 2 = 334,85m² đất ở. Giá trị là 334,85m² x 2.500.000đ/m² = 837.125.000đ (Tám trăm ba bảy triệu một trăm hai lăm nghìn đồng).

Đối với căn nhà cấp 04 bốn gian quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng thừa nhận đây là di sản của cụ Ê để lại, tuy nhiên căn nhà đã xuống cấp, sập xệ không còn giá trị sử dụng nên các bên không yêu cầu định giá.

Đối với di chúc của cụ Nguyễn Thị Ê:

Về nội dung di chúc: Ngày 08/3/2009, cụ Nguyễn Thị Ê đã ký vào di chúc với nội dung: “Tôi là Nguyễn Thị Ê, hiện nay tôi có một mảnh đất trên mảnh đất, có một ngôi nhà bốn gian mảnh đất có 630m² ở tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay trên mảnh đất này đang có một cây cổ thụ xà cừ lâu năm, nguyện vọng của tôi là tôi muốn bán cây cổ thụ này cho con gái tôi là Nguyễn Thị D1, sinh năm 1964 với số tiền là mười triệu đồng chẵn, cho con gái Nguyễn Thị D1 hai triệu đồng chẵn, còn phải trả cho tôi tám triệu đồng chẵn. Còn ngôi nhà và mảnh đất nói trên tôi giao cho con trai là Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 để sử dụng (không được bán) nếu trường hợp xảy ra mà phải bán thì phải chia đều cho bốn người con nói trên”.

Bà Nguyễn Thị Ê ký vào di chúc này khi bà chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất. Nội dung di chúc chỉ giao cho ông T sử dụng không được bán, nếu bán thì phải chia đều cho 4 anh chị em. Như vậy, nội dung di chúc không phải bà Ê cho ông T toàn bộ thửa đất này.

Do đó không chấp nhận yêu cầu công nhận di chúc của bị đơn về việc cụ Ê đã để lại toàn bộ thửa đất cho ông Nguyễn Văn T.

- Về chia di sản thừa kế: Do di chúc của cụ Ê không được chấp nhận nên di sản thừa kế của cụ Ê được chia theo pháp luật.

Về hàng thừa kế: Cụ Nguyễn Thị Ê và cụ Nguyễn Văn N có 04 người con gồm: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị D1 và bà Nguyễn Thị D2. Ngoài ra các đương sự cam kết cụ Ê không còn người con đẻ, con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ Ê và cụ N là chồng cụ Ê đã chết nên hàng thừa kế thứ nhất của cụ Ê là 04 người con trên.

- Xem xét về trích công sức: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông T đề nghị, nếu không công nhận di chúc mà chia thừa kế thì đề nghị Tòa án trích công sức giữ gìn tôn tạo di sản cho ông T tương ứng là một kỷ phần thừa kế. Ông Nguyễn Văn T là người có trách nhiệm trông coi di sản, thờ cúng tổ tiên từ khi cụ Ê chết đến nay, có công duy trì, tôn tạo, bảo quản đất. Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 618 Bộ luật Dân sự, cấp sơ thẩm đã trích công sức (thanh toán chi phí bảo quản di sản) cho ông Nguyễn Văn T 34,85m² để phần diện tích đất còn lại 300m² chia cho các đồng thừa kế là có căn cứ.

- Về kỷ phần thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị D1 từ chối nhận kỷ phần thừa kế, bà đề nghị chia di sản của bố mẹ cho các anh chị em của bà. Do đó di sản thừa kế của cụ Ê được chia cho 03 người con. Mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 100m² đất ở trị giá 250.000.000đ.

Bà Nguyễn Thị D2 đề nghị kỷ phần mà bà được hưởng, bà tự nguyện tặng cho lại ông Nguyễn Văn T, ông T đồng ý nhận kỷ phần của bà D2.

Ông Nguyễn Văn T là người được đồng thừa kế bà D2 tặng cho kỷ phần, đồng thời ông T được hưởng 34,85m² trích công sức nên ông T được hưởng 234,85m². Do diện tích mặt tiền của thửa đất có chiều dài mặt đường là 27,63m, phần di sản của cụ Ê sẽ là 13,815m mặt đường, mặc dù bà D được hưởng kỷ phần là 100m², tuy nhiên do hình thể thửa đất, bà D được hưởng 5m mặt đường kéo dài hết đất có diện tích là 119.9m² nên phần diện tích vượt quá kỷ phần được hưởng thì bà D phải có trách nhiệm giao lại bằng giá trị tiền cho ông T là 19,9m² x 2.500.000đ/m² = 49.750.000đ (Bốn chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Phần đất còn lại giao cho ông T được quyền sử dụng.

- Về tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4, lợp ngói đã xuống cấp không còn giá trị sử dụng nên các bên thống nhất không yêu cầu định giá. Các tài sản ông T xây dựng gồm: 01 nhà tôn xây dựng tháng 02/2025 có diện tích 22,6m² trị giá 47.279.200₫ (Bốn bảy triệu hai trăm bảy chín nghìn hai trăm đồng); 01 mái tôn nối liền nhà tôn vì kèo sắt trị giá 7.777.000₫ (Bảy triệu bảy trăm bày bảy nghìn đồng). Do phần đất ông T được giao trên đất có tài sản này nên ông T được quyền sử dụng.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hoá chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ê và Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về áp dụng thời hiệu đối với phần tài sản của cụ Nguyễn Văn N là có căn cứ.

Do đó không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.

Tuy nhiên tại phần Quyết định của bản án cấp sơ thẩm tuyên không rõ ràng, giao đất cho người được quyền sử dụng đất không có giáp ranh tứ cận, vị trí thửa đất. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX phúc thẩm sửa lời tuyên trong Quyết định của bản án sơ thẩm.

  1. [3] Án phí phúc thẩm: Bà D kháng cáo không được chấp nhận nhưng có đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi nên miễn án phí phúc thẩm cho bà D.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Thanh Hóa về lời tuyên trong Quyết định như sau:

Căn cứ vào các Điều 609, 610, 611, 612; 613, 616, 618; 620, 623, 624, 630, 649, 650; 651, 658 và Điều 660 của của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 Luật đất đai năm 2013;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn N để lại.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn:
  • - Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ê để lại là: ½ thửa đất số 172, tờ bản đồ số 12, có diện tích là 334.85m² đất ở tại thôn T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa); trị giá 837.125.000₫ (Tám trăm ba bảy triệu một trăm hai lăm nghìn đồng) theo Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 10/12/2009. Chia di sản thừa kế của cụ Ê theo pháp luật.

Trích công sức quản lý giữ gìn di sản cho ông Nguyễn Văn T là 34,85m² đất ở trị giá 87.150.000đ (Tám bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) trong khối di sản thừa kế.

  • - Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị Ê là 04 người con gồm: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị D1, bà Nguyễn Thị D2.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị D1 về việc từ chối nhận di sản thừa kế.

Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị D2 về việc tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho ông Nguyễn Văn T.

  • - Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Ê, cụ thể như sau:
  1. Giao cho bà Nguyễn Thị D được quyền sử dụng 119,9m² đất ở tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 12, địa chỉ thôn T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa; theo Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 10/12/2009.

Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp đất hộ ông M, ông C;
  • Phía Đông giáp đất hộ ông P, ông B;
  • Phía Nam giáp đất ông T được chia thừa kế;
  • Phía Tây giáp đường giao thông.

Bà D được quyền sử dụng tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4 lợp ngói đã xuống cấp, không định giá tài sản.

Bà D có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T giá trị đất 19,9m² bằng 49.750.000₫ (Bốn chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

  1. Giao cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng đất 214,95m² đất ở tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 12; địa chỉ thôn T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa); theo Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 10/12/2009.

Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp đất bà D được chia thừa kế;
  • Phía Đông giáp đất hộ ông P, ông B;
  • Phía Nam giáp đất ông T được hưởng;
  • Phía Tây giáp đường giao thông.

Ông T được quyền sử dụng tài sản trên đất là 01 nhà cấp lợp tôn do ông T xây dựng, 01 mái tôn và một giếng khơi.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn

Giao cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng phần tài sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn N đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế là 334.85m² đất ở tại thôn T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa) trị giá là 837.125.000đ (Tám trăm ba bảy triệu một trăm hai lăm nghìn đồng); theo Giấy chứng nhận QSD đất số AL 269781 mang tên hộ bà Nguyễn Thị Ê do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 10/12/2009.

Có vị trí giáp ranh tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp phần đất ông T được chia thừa kế;
  • Phía Đông giáp đất hộ ông P, ông B;
  • Phía Nam giáp đất hộ bà N1;
  • Phía Tây giáp đường giao thông.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đối với phần tài sản được chia.

(Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án)

  1. Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 1,2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị D.
  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TAND tối cao;
  • - P9-VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND khu vực 3;
  • - THADS khu vực 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2025/DSPT ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp chia di sản thừa kế.

  • Số bản án: 130/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của TAND khu vực 3-Thanh Hoá
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger