Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2025/DS-PT

Ngày: 25 - 3 – 2025

V/v Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng

tặng cho quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung;

Bà Hoàng Thị Hải Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 516/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 310/2024/DSST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 561/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bích P, sinh năm 1960; Cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Nguyễn Toàn T, sinh năm 1985; Cư trú tại: A, Đ, khóm B, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/01/2025).

- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1961;

2. Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1964.

Cùng cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền ông D, bà Đ: Ông Đặng Minh H, sinh năm 1980; Cư trú tại: B, đường C, khóm E, phường E, thành phố C (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 09/6/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1991;
  2. Chị Trịnh Hồng N, sinh năm 1993.

Cùng cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh V:

  • Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1977; Cư trú tại: Khóm F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 06/02/2025).
  • Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1965; Cư trú tại: C, đường số B, khu phố B, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 12/02/2025).
  • Ông Nguyễn Long Trung D1, sinh năm 1983; Cư trú tại: Ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/02/2025).
  1. Ngân hàng TMCP S1 (Phòng G); Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Tuấn M – Trưởng phòng giao dịch
  2. Chị Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1987; Cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Nguyễn Văn T1;
  4. Bà Bùi Thị N2.

Cùng cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Nguyễn Thư H1;
  2. Bà Võ Thị L.

Cùng cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo:

  • Bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn D – Là Bị đơn.
  • Bà Trịnh Hồng N và anh Nguyễn Thanh V – Là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ông Nguyễn Toàn T, ông Đặng Minh H, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Long Trung D1 có mặt tại phiên tòa khi xét xử vắng mặt khi tuyên án. Các đương sự khác vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Trước đây phía ông D, bà Đ có thiếu tiền hụi và tiền vay của bà từ năm 2015 đến 2018, được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cà Mau xét xử buộc ông D, bà Đ trả cho bà số tiền 475.470.000 đồng và 81 chỉ vàng 24k. Đến ngày 04/10/2018 ông D và bà Đ tặng cho con anh Nguyễn Thanh V toàn bộ phần đất có diện tích 23.060m² tại các thửa số 282, 283, 263 và 421 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (gọi tắt là phần đất 23.060m²), việc tặng cho này nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (QSDĐ) giữa ông D với anh V vào ngày 04/10/2018 đối với phần đất nêu trên để đảm bảo việc thi hành án đối với khoản nợ thiếu bà. Đồng thời bà yêu cầu Tòa án Hủy hợp đồng thế chấp tài sản số 202310032187285 ngày 04/10/2023 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản 202310032187285/01 ngày 06/10/2023 đối với phần đất nêu trên, giữa Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C – Phòng G (viết tắt là S2) với anh Nguyễn Thanh V.

- Ông Đặng Minh H trình bày: Vào khoảng tháng 10/2018 anh Nguyễn Thanh V (con ông D) và vợ là Trịnh Hồng N có xuất ra số tiền 500.000.000 đồng trả cho Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C (viết tắt là S2) để chuộc lại 02 giấy chứng nhận QSDĐ mà ông D đã thế chấp cho Ngân hàng, phần đất 23.060m².

Đến ngày 04/10/2018 ông D tặng cho anh Văn phần đất 23.060m², các bên lập thủ tục tặng cho được UBND xã T chứng thực đúng quy định và đến ngày 08/10/2018 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đã điều chỉ thông tin QSDĐ từ ông D sang tên anh V.

Ông D tặng cho đất anh V từ ngày 04/10/2018 nhưng đến thời điểm năm 2020 thì ông D, bà Đ mới phát sinh tranh chấp với bà P. Trước yêu cầu khởi kiện của bà P thì bà Đ ông D không đồng ý, hiện tại thì ông D, bà Đ đã trả cho bà P khoảng hơn 35.000.000 đồng và 4 chỉ vàng 24k.

- Anh Nguyễn Thanh V trình bày:

Vào khoảng tháng 10/2018 vợ chồng anh có xuất ra số tiền 500.000.000 đồng trả cho S2 để chuộc lại 02 giấy chứng nhận QSDĐ mà ông D đã thế chấp cho Ngân hàng, phần đất 23.060m².

Đến ngày 04/10/2018 ông D tặng cho anh phần đất trên, thực chất là ông D chuyển nhượng cho vợ chồng anh số tiền 500.000.000 đồng và đến ngày 08/10/2018 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đã điều chỉnh thông tin QSDĐ từ ông D sang anh đứng tên.

Ông D tặng cho đất anh từ ngày 04/10/2018 nhưng đến thời điểm năm 2020 thì ông D, bà Đ với bà P mới phát sinh tranh chấp.

Bà P yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ ngày 04/10/2018 giữa ông D với anh đối với phần đất 23.060m², anh không đồng ý.

Vào ngày 04/10/2023 và ngày 06/10/2023 vợ chồng anh có vay S2 tổng số tiền 1.800.000.000 đồng, có thế chấp giấy chứng nhận QSDĐ số B 468350 do UBND huyện T cấp ngày 04/3/1994 và thay đổi người sử dụng đất là anh Nguyễn Thanh V ngày 08/10/2018 và thế chấp giấy chứng nhận QSDĐ số R 093742 do UBND huyện T cấp theo quyết định ngày 05/5/2000 và thay đổi người sử dụng đất là anh Nguyễn Thanh V ngày 08/10/2018, các phần đất đều tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ông Hà Tuấn M là đại diện theo ủy quyền của S2 trình bày:

Ngày 04/10/2023 anh Nguyễn Thanh V, chị Trịnh Hồng N có vay S2 số tiền 500.000.000 đồng và ngày 06/10/2023 anh V, chị N tiếp tục vay số tiền 1.300.000.000 đồng, khi anh V, chị N vay có thế chấp 02 giấy chứng nhận QSDĐ đúng như anh Nguyễn Thanh V trình bày.

Việc S2 cho vợ chồng anh V vay đúng theo quy định pháp luật, tại thời điểm S2 cho anh V, chị N vay và có thế chấp giấy chứng nhận QSDĐ, S2 Sông Đốc có thẩm định đúng theo quy định và không biết thời điểm cho vay Tòa án đang thụ lý giải quyết tranh chấp giữa bà P và ông D, bà Đ yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông D với anh V ngày 04/10/2018.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 310/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bích P đối với ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ.

Tuyên bố hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn D với anh Nguyễn Thanh V ngày 04/10/2018, phần đất 23.060m².

Hủy hợp đồng thế chấp tài sản số 202310032187285 ngày 04/10/2023 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản 202310032187285/01 ngày 06/10/2023 giữa Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C – Phòng G với anh Nguyễn Thanh V.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 07/10/2024 Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời nhận đơn kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị Đ, đồng thời nhận đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N. Các đương sự kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị Đ trình bày: Ông D vay ngân hàng từ năm 2013 đến 2018 và có cố đất cho những người khác. Trước khi cho tặng thì anh V đã trả nợ ngân hàng và trả tiền cố đất. Năm 2018 khi ông D cho đất cho con là anh V thì tranh chấp giữa bà P và ông D chưa xảy ra, do đó không thể cho là ông D tặng cho đất cho anh V để tẩu tán tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Thanh V trình bày: Anh Văn ngoài trả nợ cho ngân hàng 500.000.000 đồng, còn trả nợ cho ông D khoảng 1 tỷ, đồng thời cải tạo sửa chữa nhà khoảng 1 tỷ. Cấp sơ thẩm nhận định anh V tiếp tục vay 1.800.000.000 đồng là cố tình thực hiện đến cùng để không trả nợ cho bà P là không đúng. Cấp sơ thẩm không xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu là chưa đúng, cấp sơ thẩm không thẩm định tài sản là sai. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ, anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 310/2024/DSST ngày 25 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ, anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Theo các Bản án số 165/2020/DS-ST ngày 29/9/2020, Bản án số 29/2021/DS-ST ngày 22/02/2021, Bản án số 142/2021/DS-ST ngày 19/11/2021, và Bản án số 03/2022/DS-ST ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã xác định việc chơi hụi của bà Đ và bà P bắt đầu từ năm 2015 và đến năm 2017 bà Đ ngưng không đóng hụi chết, đồng thời bà Đ có vay mượn tiền, vàng của bà P, đến năm 2019 do bà P và bà Đ không thỏa thuận được nên bà P khởi kiện. Các bản án nêu trên đã buộc bà Đ và ông D có trả cho bà P số tiền 475.470.000 đồng và 81 chỉ vàng 24k.

[2] Việc anh V, chị N trả nợ ngân hàng thay cho ông D và bà Đ 500.000.000 đồng là thực tế có xảy ra, tuy nhiên bản chất của việc trả nợ ngân hàng là để lấy giấy chứng nhận QSDĐ của ông D ra để ông D làm thủ tục tặng cho QSDĐ cho anh V. Điều này thể hiện qua việc ngay sau khi trả nợ cho ngân hàng để lấy giấy chứng nhận QSDĐ của ông D, thì ông D làm hợp đồng tặng cho QSDĐ cho anh V toàn bộ phần đất và 05 ngày sau khi ông D và anh V ký hợp đồng cho tặng, anh V đã vay ngân hàng 600 triệu.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của ông D xác định hiện ông D vẫn sống chung nhà với anh V tại phần đất ông D đã cho tặng anh V. Tại Biên bản xác minh ngày 07/3/2025, Công an xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau xác định hiện nay ông Nguyễn Văn D đứng chủ hộ gia đình (bút lục 403).

[4] Từ những tình tiết và nhận định trên, có cơ sở xác định bà Đ và ông D đã nợ bà P từ năm 2017 nhưng ông D và bà Đ không thực hiện việc trả nợ cho bà P mà dùng phần đất 23.060m² là tài sản duy nhất của vợ chồng tặng cho anh V, là trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba.

Khoản 2 Điều 124 Bộ luật dân sự quy định: “2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu."

[5] Từ những tình tiết và quy định của pháp luật nêu trên cho thấy ông D tặng cho quyền sử dụng đất cho con là anh V, trong khi không còn tài sản nào khác để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cho bà P, là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông Nguyễn Văn D và anh Nguyễn Thanh V, được chứng thực ngày 04/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T vô hiệu là có căn cứ.

[6] Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch dân sự nhằm tẩu tán tài sản bị Tòa án tuyên là vô hiệu sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý được quy định tại Điều 131 Bộ Luật Dân sự, cụ thể:

“... “2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận...4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường...”.

[7] Theo quy định nêu trên, hậu quả pháp lý phát sinh khi Tòa án tuyên hợp đồng tặng cho giữa ông D và anh V vô hiệu, gồm:

Về việc anh V trả nợ thay cho ông D. Do mối quan hệ là cha con, nếu ông D và anh V không tự thỏa thuận được, sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).

Bên cạnh đó, tại cấp sơ thẩm, anh V, ông D và bà Đ đều có văn bản từ chối đo đạc, không đồng ý thẩm định giá tài sản (bút lục 109, 196, 197, 121). Do đó cấp sơ thẩm không thể có căn cứ để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Do đó, nếu ông D và anh V không tự thỏa thuận được, sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).

[8] Đối với S2, tại cấp sơ thẩm không có văn bản yêu cầu gì về việc vay nợ và thế chấp tài sản của anh V. Sau khi đại diện S2 nhận Bản án sơ thẩm (nhận ngày 24/02/2025 – bút lục 406), S2 không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét về hợp đồng tín dụng cũng như việc thế chấp tài sản giữa S2 với anh V.

[9] Từ những căn cứ, nhận định và quy định pháp luật nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông D, bà Đ, anh V và chị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 310/2024/DSST ngày 25 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thơi, tỉnh Cà Mau.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[10] Phần quyết định của Bản án sơ thẩm, phải tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông D và anh V là vô hiệu. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không cần phải sửa bản án về vấn đề này mà chỉ cần điều chỉnh lại cách tuyên cho đúng. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[11] Về chi phí tố tụng và án phí:

Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, chi phí định giá 22.600.000 đồng ông D, bà Đ phải chịu, bà P đã tạm ứng trước, buộc ông D, bà Đ trả lại cho bà P 23.000.000 đồng.

Án phí sơ thẩm: Bà Đ, ông D là người cao tuổi được miễn theo quy định.

Án phí phúc thẩm: Ông D và bà Đ là người cao tuổi được miễn theo quy định. Anh V và chị N mỗi người phải chịu 300.000 đồng.

[12] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ, anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 310/2024/DSST ngày 25 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bích P đối với ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ.
  2. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn D với anh Nguyễn Thanh V, được chứng thực ngày 04/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau đối với phần đất có diện tích 23.060m² tại các thửa số 282, 283, 263 và 421 tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, là vô hiệu.

    Hủy hợp đồng thế chấp tài sản số 202310032187285 ngày 04/10/2023 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản 202310032187285/01 ngày 06/10/2023 giữa Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh C – Phòng G với anh Nguyễn Thanh V.

  3. Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 23.000.000 đồng. Do bà P đã tạm ứng trước, nên buộc ông D, bà Đ trả lại cho bà P 23.000.000 đồng.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí dân sự.
  6. Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị Đ được miễn.

    Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị Đ được miễn.

    Anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 01/10/2024 anh Nguyễn Thanh V và chị Trịnh Hồng N mỗi người đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng, theo biên lai số 0005656 và 0005657 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được chuyển thu.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  7. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

Đỗ Cao Khánh

Hoàng Thị Hải Hà

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 130/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông D và bà Đ thiếu tiền hụi của bà P nhưng không thanh toán mà chuyển nhượng toàn bộ phần đất cho con là ông V nhằm tẩu tán tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger