|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2025/HS-PT Ngày: 27 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở TAND tỉnh Bình Thuận tiến hành xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 679/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đại N do có kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
* Các bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Xuân T, sinh năm 1996, tại Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng D và bà Nguyễn Thị Kim C; có vợ: Lê Thị H (Ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 14/6/2016, bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc và đã nộp phạt; Ngày 03/12/2018, bị Công an huyện H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc và đã nộp phạt xong;
Bị bắt tạm giam ngày 25/8/2023, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
- Nguyễn Đại N, sinh năm 2001 tại Bình Thuận; Nơi cư trú:Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng D và bà Nguyễn Thị Kim C; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị bắt tạm giam ngày 25/8/2023, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B; (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N: có Luật sư Hồ Thị N1 – Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Hồ Việt Quốc V:
- Bà Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; là mẹ của bị hại; (xin xét xử vắng mặt).
- Bà Phạm Thị Bích T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; (là vợ của bị hại, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: có Luật sư Nguyễn Thị M – Đoàn luật sư Thành phố H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Nguyễn Xuân T có vay mượn tiền (không viết giấy vay nợ) của vợ chồng Nguyễn Thị Bích T2 (tên thường gọi T3) và Lâm Hán T4 (tên thường gọi Bảy cá đồng). Quá trình trả nợ, giữa T và T2 xảy ra mâu thuẫn do T chưa trả hết tiền nợ cho T2 nên bị T2 đăng hình T trên các nhóm nợ xấu ở ứng dụng mạng xã hội Facebook.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, Nguyễn Xuân T mang theo 01 con dao dài 30cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 18cm, cán làm bằng gỗ dài 12cm cất trong người để phòng thân do T thường xuyên bị nhóm của T2 gọi điện đe dọa (theo lời khai của T) và cùng với T5 Trương Quốc Đ uống cà phê tại quán PEY thuộc Khu phố F, phường P, thành phố P. Khi đang uống cà phê thì người quen với T là Nguyễn Tấn H1 và Hồ Việt Quốc V (Năm C1) đi vào trong quán cà phê gọi T ra ngoài nói chuyện nên T đi theo H1 đến khu vực đường N, gần chỗ giữ xe của quán PEY. Thấy T đi theo H1 thì Đ gọi điện thoại cho em ruột của T là Nguyễn Đại N qua ứng dụng Messenger nói N qua quán PEY chở T về do đám người của nhóm T2 (T3) đang tìm T thì N hỏi lại: “Ở đâu?”. Đ trả lời: “Ở bãi giữ xe phía sau quán PEY”. Do biết T đang nợ tiền của nhóm T2 và thường xuyên bị nhóm này gọi điện thoại đòi nợ cũng như đe dọa nên N lấy 01 con dao có đặc điểm cán dài 31cm, lưỡi bằng kim loại dài 19cm, cán bằng nhựa dài 12cm cất trong người rồi nhờ bạn của mình chở đến quán PEY.
Khi T đi theo H1 ra đường N thì thấy có khoảng 05-06 người, trong đó có Nguyễn Thị Bích T2, Lâm Hán T4, H1, V và 02 người thanh niên đi cùng với V (không xác định được nhân thân). H1 hỏi T: “Sao em hứa trả tiền cho ông B cá đồng nhưng đến nay quá hạn không trả?” thì T trả lời: “Em kẹt chưa có tiền”. Lúc này, T4 đi đến nói: “Tưởng mày là ai, ai ngờ là thằng nhóc con”; đồng thời, dùng tay kẹp cổ và dùng tay, chân đánh vào người T. Bị T4 đánh, T dùng tay ôm mặt và không phản kháng gì. H1 thấy T4 đánh T thì vào can ngăn nên T4 ngừng lại và dùng xe môtô chở T2 đi đến đứng cách vị trí đánh nhau khoảng 30m còn T và H1 tiếp tục nói chuyện về việc T trả tiền cho vợ chồng T4 và T2. Khi Trọng định đi vào lại quán thì V (Năm C1) đi đến nói với T “Bây giờ tiền bạc tính sao”, T trả lời: “Đang kẹt tiền, từ từ sẽ gửi”; T nói với V kêu vợ chồng T2 gỡ hình ảnh nói xấu Trọng trên ứng dụng mạng xã hội facebook thì T sẽ trả tiền cho T2 thì giữa T và V xảy ra cãi vã. V nói với T: “Anh tao đánh mày xong thì đến phiên tao”, rồi dùng tay tát T 01 cái rồi lấy trong người ra 01 cây dũ (cây 3 khúc) cầm bằng tay phải ra đánh vào vùng đầu, vai và tay của T nên T đưa tay lên đỡ và tránh né. Lúc này, N cũng vừa đến thấy T bị đánh nên N đến đẩy V ra thì bị V dùng cây dũ đánh 01 cái trúng vào xương đòn vai bên trái của N chảy máu. Bị V đánh N bị choáng nên lùi lại phía sau, còn T do thấy V đánh em mình nên rút dao từ trong lưng quần bên trái ra cầm bằng tay phải và hỏi: “Sao mày đánh em tao?”, rồi xông tới đâm 01 nhát từ trên xuống trúng vào vai phải của V. Bị T đâm, V dùng cây dũ đánh trả thì T tiếp tục áp sát đâm nhiều nhát vào vùng cổ, vai của V. Cùng lúc này, N cũng rút dao thủ sẵn ra xông đến cùng với T đánh nhau với V. T phát hiện có 01 người thanh niên (không xác định được nhân thân) cầm mũ bảo hiểm chạy đến chỗ T, N và V đang đánh nhau nên T cầm dao rượt đuổi người thanh niên này vì nghĩ thuộc nhóm V; còn V cầm cây dũ và N cầm dao tiếp tục đánh nhau. Khi V lùi lại phía sau thì bị vấp té và khom người quay lưng đứng dậy thì bị N cầm dao, mũi dao hướng xuống dưới xông tới đâm 01 nhát trúng vào lưng phải của V. Bị đâm nên V bỏ chạy thì N cầm dao tiếp tục xông tới đâm nhiều nhát về hướng người V nhưng không rõ có trúng hay không. Cùng lúc này, T sau khi rượt đuổi người thanh niên cầm mũ bảo hiểm được một đoạn thì ngừng lại và quay về vị trí N và V đánh nhau. Khi quay về thì thấy có một người thanh niên (không xác định được nhân thân) đang ngồi trên xe môtô, nghĩ là người thanh niên này cùng nhóm với V nên T cầm dao xông vào định đâm người thanh niên này. Thấy T cầm dao xông tới thì người thanh niên này bỏ xe chạy thoát. T tiếp tục đi về vị trí N và V đánh nhau rồi cùng N xông vào đâm V. Thấy V bỏ chạy thì T và N ngừng lại bỏ về. Hồ Việt Quốc V bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3 nhưng đã tử vong.
T và N sau khi đâm V xong thì mang theo 02 con dao về nhà của mình tại thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tại đây, N đưa dao cho T thì T thấy trên con dao của N có dính máu nên đem ra rửa. Khi nghe tin V tử vong, T và N đã đến Công an xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 02 con dao gây án.
Kết quả khám nghiệm hiện trường lúc 02 giờ 45 phút ngày 25/8/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thực hiện (hiện trường bị xáo trộn do người dân và phương tiện qua lại).
Hiện trường xảy ra tại đoạn đường N thuộc Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Các hướng tiếp giáp như sau: Hướng Bắc giáp đường P, hướng Nam giáp với đường V, hướng Đ1 và hướng Tây giáp với khu dân cư. Đoạn đường N được trải nhựa bằng phẳng dài 108m90, rộng 8m70 chia 02 làn đường (hướng Bắc - N đi ra đường V, hướng Nam - B đi ra đường P).
Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng Nam - B, đường V đi ra đường P ghi nhận: Tại vị trí cách góc nhà bên phải số 36 Nguyên Hồng về hướng Đông 11m20 và góc nhà bên trái 10m20 phát hiện một bao vải màu đen kích thước (25 x 3,5 x 2) cm, đặt vị trí 1. Vị trí này cách lề đường bên phải 5m20.
Vị trí số 1 đo về hướng Bắc 37m40 phát hiện một chiếc dép bên phải màu đen, sọc trắng (vị trí 2). Vị trí này cách lề đường bên phải 6m40, cách đường P 19m. Kết thúc khám nghiệm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thu 01 bao vải và 01 chiếc dép bên phải màu đen.
Kết luận giám định tử thi số 189/KLGĐTT-TTPYBT ngày 28/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân tử vong của Hồ Việt Quốc V như sau:
- Vết thương vùng lưng phải ngang khe liên sườn II-III cạnh cột sống D2 bên phải, thấu vào khoang ngực phải, xuyên thấu từ mặt sau trong thuỳ trên phổi phải đến mặt trước đỉnh phổi phải, xuyên lên trên vùng thượng đòn phải làm đứt động mạnh dưới đòn phải. Vết thương do vật sắc nhọn gây ra theo chiều hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên với lực tác động rất mạnh. Vết thương này gây tử vong cho nạn nhân.
- Vết thương vùng cổ trái do vật sắc gây ra theo chiều hướng từ trên xuống dưới với lực tác động mạnh.
- Vết thương đầu trên mặt sau đỉnh vai phải do vật sắc gây ra theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước với lực tác động mạnh.
- Vết thương bờ trên xương đòn phải do vật sắc gây ra theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái với lực tác động mạnh.
- Vết thương đường nách giữa bên phải ngang khe liên sườn VI-VII: Vết thương này do can thiệp y tế tạo ra trong khi cấp cứu nạn nhân.
- Trầy xước da (rách da nông) mặt trước trong khuỷu tay trái do vật sắc tác động với lực tác động nhẹ theo chiều hướng tác động phụ thuộc vào tư thế tay trái của nạn nhân với vật gây thương.
Xét nghiệm, giám định khác: Xét nghiệm mô bệnh học đứt thủng da, đứt thủng bó mạch; Đ2 thủng phổi. Xét nghiệm nồng độ cồn (Ethanol) trong máu toàn phần 0,1 mg/100mL.
Kết luận nguyên nhân chết: Vết thương vùng lưng bên phải thấu vào khoang ngực phải, thủng thuỳ trên phổi phải, đứt động mạch dưới đòn phải làm chảy máu vào khoang ngực phải gây mất máu cấp, suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến tử vong.
Kết luận giám định pháp định tổn thương cơ thể trên người sống số 608/KLTTCT-TTPYBT ngày 26/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Đại N như sau:
Các kết quả chính: Vết thương đầu ngoài xương đòn trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (2 x 0,4)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đại N tại thời điểm giám định là 1%. Vết thương do vật tày gây ra. Vết thương có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau, với lực tác động nhẹ. Hiện không xác định cố tật.
Kết luận giám định pháp định tổn thương cơ thể trên người sống số 649/KLTTCT-TTPYBT ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Xuân T như sau: Các kết quả chính: Đa vết sưng nề bầm tím vùng đỉnh đầu phải, vùng mặt phải hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Kết luận: Không đủ cơ sở xác định vật gây ra vết thương. Không đủ cơ sở xác định chiều hướng lực tác động gây thương tích. Không đủ cơ sở xác định mức độ cố tật.
Kết luận giám định 5844/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phân Viện KHHS tại TP . Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết màu nâu đỏ trên 02 con dao gửi đi giám định đều là máu người. Dấu vết máu trên con dao dài 30cm (lưỡi bằng kim loại, cán dao bằng gỗ) phân tích được kiểu gen nam giới, trùng với tử thi Hồ Việt Quốc V. Dấu vết máu trên con dao dài 31cm (lưỡi dao bằng kim loại, cán dao nhựa) có lẫn nhiều nguồn ADN nên không truy nguyên được cá thể.
Vật chứng: 02 con dao.
Về phần dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Kim N2 là mẹ ruột V và bà Phạm Thị Bích T1 là vợ của V yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 442.740.000 đồng (gồm chi phí mai táng 247.740.000 đồng; tiền điều trị tại bệnh viện 15.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng). Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại 40.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSBT-P2 ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N về tội “Giết người”, tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 17/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:
-
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyến bố các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại N: 13 (Mười ba) năm tù
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T: 12 (Mười hai) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2023.
-
Về bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tổng cộng 288.725.000 đồng “được chia mỗi bị cáo 50%”. Tiếp tục tạm giữ số tiền 40.000.000 đồng tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B ngày 16/11/2023 số tài khoản 394901052718 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận và số tiền 30.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000105 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phải có trách nhiệm liên đới cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng “Được chia phần mỗi bị cáo 50%” cho người con tên Hồ Việt Quốc H2, sinh ngày 08/3/2024, thời gian cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi đủ 18 tuổi.
Tách yêu cầu cấp dưỡng đối với người con tên Phạm Thị Bích H3, sinh ngày sinh ngày 17/12/2015 để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi đại diện bị hại có đầy đủ chứng cứ và có yêu cầu.
Bác yêu cầu cấp dưỡng đối với bà Nguyễn Thị Kim N2 (mẹ ruột bị hại).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 28/6/2024, bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 01/7/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại Hồ Việt Quốc V có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, buộc các bị cáo T và N phải liên đới cấp dưỡng cho hai con của bị hại là cháu H2 và cháu H4 mỗi tháng 2.080.000 đồng cho đến khi 18 tuổi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Lý do xin giảm nhẹ hình phạt là giai đoạn phúc thẩm các bị cáo có tác động gia đình khắc phục thêm cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 động, tổng số tiền đã khắc phục là 200.000.000 đồng; Đối với kháng cáo của bị hại về cấp dưỡng thêm 01 con ruột bị hại V, các bị cáo đồng ý và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho các bị cáo T, N cho rằng mức hình phạt sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là nặng so với đề nghị của Viện kiểm sát sơ thẩm; Do bị hại V đã dùng cây đánh các bị cáo trước, nên bị kích động về mặt tinh thần, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã khắc phục thêm hậu quả. Do đó, đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo. Đối với kháng cáo của phía bị hại đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của các bị cáo.
- Phía bị hại và Luật sư vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đây là vụ án giết người có tính chất đồng phạm giản đơn; Trong vụ án này, phía bị hại cũng có lỗi nên Tòa sơ thẩm tuyên mức án như Bản án sơ thẩm là phù hợp. Tuy nhiên, giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo có khắc phục thêm số tiền 130 triệu đồng và phía bị hại đã cung cấp Kết quả xét nghiệm AND chứng minh cháu Phạm Thị Bích H3 là con ruột bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để giảm cho mỗi bị cáo 01 năm tù. Đồng thời, sửa án sơ thẩm theo hướng buộc thêm các bị cáo có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho cháu Phạm Thị Bích H3 sinh ngày 17/12/2015 cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N, thấy rằng:
[1.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử, thể hiện: Nguyên nhân xuất phát từ việc T có nợ tiền của vợ chồng anh Lâm Hán T4. Nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, trong khi bị cáo đang uống cà phê tại quán P thuộc Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì bị Nguyễn Tấn H1 gọi ra phía sau quán PEY để cho anh T4 và bị hại Hồ Việt Quốc V đòi nợ. Tại đây, T bị V đánh nên Nghĩa là (em của T) xông vào ngăn cản liền bị V dùng cây dũ (cây 03 khúc) đánh trúng vai trái gây thương tích 01%. Thấy N bị V đánh thì T rút dao đã chuẩn bị sẵn từ trước xông vào đâm 01 nhát trúng vai trái của V rồi tiếp tục áp sát đâm nhiều nhát trúng vùng vai, cổ của V. Lúc này, N cũng rút dao xông đến cùng T đâm 01 nhát trúng vào lưng phải của V thấu vào khoang ngực phải, thủng thuỳ trên phổi phải, đứt động mạch dưới đòn phải, gây mất máu cấp, suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến tử vong.
Với hành vi nêu trên, Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[1.2]. Về mức hình phạt:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo T và N cùng tấn công bị hại dẫn đến tử vong nên cùng có vai trò là người thực hành. Tại kết luận giám định xác định nguyên nhân chết của bị hại là do vết thương bị cáo N gây ra nên bị cáo N phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo T. Án sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; gia đình có công với nước; bị cáo N có nhân thân tốt, là quân nhân xuất ngũ. Nên Tòa sơ thẩm áp dụng mức án 12 năm tù đối với T, 13 năm tù đối với Nghĩa là tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm gia đình các bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là khắc phục thêm số tiền 130.000.000 đồng; Thấy rằng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nhưng có tác động của các bị cáo đã khắc phục số tiền trên là thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Tp . đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
[2]. Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại về cấp dưỡng, thấy rằng:
[2.1]. Về mức cấp dưỡng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 591 Bộ luật dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006 của HĐTP TAND Tối cao thì ngoài quy định mức lương tối thiểu vùng thì còn xem xét đến thu nhập và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Án sơ thẩm đã có xem xét điều kiện, khả năng kinh tế để buộc mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000đồng/1 người cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.
[2.2]. Về đối tượng cấp dưỡng thêm cháu Phạm Thị Bích H3, sinh ngày 17/12/2015.
Quá trình điều tra và Bản án sơ thẩm đã nhận định: “do chưa đủ cơ sở để xác định cháu Phạm Thị Bích H3 là con của bị hại, nên đã tách phần cấp dưỡng nuôi con để giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác, khi đại diện bị hại cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu”.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp bị hại đã cung cấp được Kết quả xét nghiệm ADN ngày 07/12/2024 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền tại Tp . kết luận: Cháu Phạm Thị Bích H3, sinh ngày 17/12/2015 có quan hệ huyết thống với bà Nguyễn Thị Kim N2 – là mẹ ruột bị hại; các bị cáo cũng đồng ý với yêu cầu này của phía bị hại. Do đó, có căn cứ để buộc các bị cáo có trách nhiệm cấp dưỡng thêm đối với cháu H3, tránh sự việc kéo dài không cần thiết.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP . đề nghị chấp nhận kháng cáo này của phía bị hại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đại N và đại diện hợp pháp bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Đại N và một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 17/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về hình phạt và đối tượng cấp dưỡng.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phạm tội “Giết người”.
-
Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự cho 02 bị cáo Nguyễn Đại N, Nguyễn Xuân T.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại N: 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T: 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2023.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tổng cộng 358.725.000đồng “được chia cho mỗi bị cáo 50%”. Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000 đồng mà phía gia đình các bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận (40.000.000 đồng tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B ngày 16/11/2023 số tài khoản 394901052718 + 30.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000105 ngày 26/4/2024 và 130.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000330 ngày 17/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận) để đảm bảo thi hành phần trách nhiệm dân sự của các bị cáo.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Đại N phải có trách nhiệm liên đới cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng “Được chia phần mỗi bị cáo 50%” cho 02 người con tên Hồ Việt Quốc H2, sinh ngày 08/3/2024 và Phạm Thị Bích H3, sinh ngày sinh ngày 17/12/2015; thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/6/2024) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Đại N, Nguyễn Xuân T và đại diện hợp pháp bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 130/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 130/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
