Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP TN

TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HSST

Ngày: 18-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TAND TP TN, TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Tâm;

Ông Trần Tấn Phát.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký TAND tp TN, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát tp TN, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở TAND tp TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Anh K (tên gọi khác: L Đ), sinh năm 1975; tại tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà 292 đường CMTT, khu phố N, phường M, tp TN, tỉnh TN; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; con ông Trương Văn L (đã chết) và con bà Thái Thị Mỹ L1 (đã chết); vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Bản án số: 04/2016/HSST ngày 10-11-2016 của TAND tp TN, tỉnh TN áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Trương Anh K 03 (Ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bản án số: 59/2020/HSST ngày 16-9-2020 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh TN áp dụng điểm c, khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm S khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điều 35; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trương Anh K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: Có 01 tiền sự, Quyết định cai nghiện tại gia đình, cộng đồng số: 16 ngày 23-8-2024 của Ủy ban nhân dân Phường M, tp TN, tỉnh TN thời gian 01 năm, từ ngày 23-8-2024 đến ngày 23-8-2025.

Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bắt để tạm giữ ngày 09-9-2024, chuyển tạm giam từ ngày 18-9-2024 tại Nhà tạm giữ Công an tp TN, tỉnh TN đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 15 giờ ngày 08-9-2024, Trương Anh K đón taxi từ nhà đến khu vực thuộc chợ LH, xã TT, thị xã HT, tỉnh TN gặp người tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 bịch nylon bên trong có 04 bịch nylon hàn kín và 01 bịch nylon loại kẹp đầu chứa ma túy với giá tiền 1.300.000 đồng. Khi mua được ma túy, K đón taxi về lại nhà và lấy ra một ít để sử dụng, phần còn lại K bỏ vào túi đeo chéo ngang trên người. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, Công an Phường M kết hợp đội cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an tp TN tiến hành kiểm tra Trương Anh K phát hiện bên trong túi đeo chéo màu đen của K đang đeo trên người có 01 bịch nylon, bên trong có 04 bịch nylon được hàn kín và 01 bịch nylon loại kẹp đầu chứa tinh thể rắn trong suốt. Phát hiện trong phòng ngủ của K có 01 chai thủy tinh có gắn 01 tẩu thủy tinh chứa chất màu nâu và 01 ống hút nhựa. K khai nhận tinh thể rắn trong suốt bên trong 04 bịch nylon được hàn kín và 01 bịch nylon loại kẹp đầu là ma túy của K cất giấu để sử dụng chưa hết nên bắt người phạm tội quả tang.

Qua xét nghiệm, Trương Anh K dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Trương Anh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Qua xác minh bị cáo K không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Kết luận giám định số: 1774/KL-KTHS ngày 16-9-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt (Kí hiệu M 1.1) bên trong 04 (Bốn) bịch nylon được hàn kín và 01 (một) bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 1,8909 (Một phẩy tám chín không chín) gam.

Mẫu chất màu nâu (Kí hiệu M 1.2) bên trong 01 (Một) tẩu thủy tinh gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1731 (Không phẩy một bảy ba một) gam.

Kết quả thu giữ:

  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 1774 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của Trương Anh K sau giám định (bút lục số 29).
  • - 01 chai thủy tinh trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa;
  • - 01 quẹt ga;
  • - 01 túi đeo chéo màu đen.

Cáo trạng số: 134/CT-VKSTPTN ngày 29-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tp TN, tỉnh TN truy tố bị cáo Trương Anh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại tòa, bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp TN, tỉnh TN thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bị cáo K từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số: 1774 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của Trương Anh K sau giám định;
  • - 01 chai thủy tinh trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa;
  • - 01 quẹt ga;
  • - 01 túi đeo chéo màu đen.

Bị cáo K không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo K rất hối hận về hành vi của bị cáo gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án thấp nhất để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tp TN; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tp TN; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng; phù hợp vật chứng vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Để có ma túy sử dụng, Trương Anh K đã tàng trữ trái phép chất ma túy là loại Methamphetamine, khối lượng 1,8909 (Một phẩy tám chín không chín) gam và 0,1731 (Không phẩy một bảy ba một) gam thì bị lực lượng Công an tp TN, tỉnh TN phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” 01 tiền sự về hành vi sử dụng ma túy. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3.1] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy trong cộng đồng dân cư, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn khác trong xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm băng hoại giống nòi, là một trong những nguyên nhân gây lây lan căn bệnh HIV/AIDS và phát sinh các loại tội phạm khác.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về nhân thân bị cáo K: Bị cáo có tiền án, tiền sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì không có khả năng thi hành.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với những tài sản không còn giá trị sử dụng gồm:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 1774 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của Trương Anh K sau giám định; - 01 chai thủy tinh trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa; - 01 quẹt ga; - 01 túi đeo chéo màu đen.

[6] Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp TN: Đề nghị áp dụng điều luật, xác định tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với người có tên “Q” là người bán trái phép ma túy cho bị cáo K do không rõ tên, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tp TN, tỉnh TN chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trương Anh K (tên gọi khác: L Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Anh K 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-9-2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự:

Miễn hình phạt bổ sung bị cáo Trương Anh K vì không có khả năng thi hành.

3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số: 1774 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của Trương Anh K sau giám định; - 01 chai thủy tinh trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa; - 01 quẹt ga; - 01 túi đeo chéo màu đen.

4. Về án phí: Bị cáo Trương Anh K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS tp Tây Ninh;
  • - Công an tp Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Trọng Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HSST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 130/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt bị cáo Trương Anh K 5 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger