Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 130/2024/HSST

Ngày 30-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Quốc Phòng- Giáo viên nghỉ hưu; bà Lê Thị Huấn- Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXX-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Phạm Việt A, sinh năm 2005; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/6/2024 đến ngày 24/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị can bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
  2. Phạm Công C, sinh năm 2004; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công C1 và bà Phạm Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 29/9/2022 bị TAND tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng từ cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã D; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phạm Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt
  • + Chị Nguyễn Thúy H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Y, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt
  • + Chị Phạm Thị L, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt
  • + Anh Đỗ Gia H1, sinh ngày 21/06/2008. Đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Anh T2, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970; cùng địa chỉ: Thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; đều vắng mặt

- Người làm chứng: Anh Lương Văn M, sinh năm 1988; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 15/6/2024, tại quán BiA của anh Lương Văn M, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã M, thị xã D làm chủ. Đội cảnh sát điều tra tội phạm hình sự kinh tế và ma tuý Công an thị xã D phối hợp với Công an xã M, thị xã D bắt quả tang đối tượng Phạm Việt A đang có hành vi bán trái phép 01 gói ni lon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có chứa các sợi thảo mộc màu nâu ( Phạm Việt A khai nhận là ma tuý cỏ Mỹ) cho Đỗ Gia H1, sinh ngày 21/6/2008 trú tại thôn Y, xã M, thị xã D với giá 250.000đ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Việt A theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • T3 tại lòng bàn tay phải của Phạm Việt A: 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (14x8,5) cm, bên trong có chứa các sợi thảo mộc màu nâu được niêm phong trong phong bì kí hiệu “QT01”.
  • Số tiền 250.000₫ gồm: 01 tờ tiền polime, loại mệnh giá 100.000đ và 03 tờ tiền polime loại mệnh giá 50.000₫ được niêm phong trong phong bì dán kín kí hiệu "QT02".
  • T3 tại túi quần phía trước bên trái Phạm Việt A đang mặc: 01 tờ tiền polime loại mệnh giá 100.000đ, được niêm phong trong phong bì dán kín “QT03”
  • T3 tại túi quần phía trước bên phải Phạm Việt A đang mặc: 01 điện thoại di động hiệu IPhone được niêm phong trong phong bì dán kín kí hiệu “QT04”.
  • T3 tại cửa quán B1-a nơi xảy ra sự việc: 01 xe mô tô BKS: 90B2-868.96, số khung: 730XGY123081, số máy: JP73E0123145.
  • T3 tại túi quần phía sau bên phải của Đỗ Gia H1 đang mặc 01 điện thoại di động hiệu Nokia, có nắp sim điện thoại, được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “TQ 05”.

Sau khi bị bắt quả tang Phạm Việt A khai số ma tuý cỏ Mỹ có được là do mua của Phạm Công C tại thôn Đ, xã T, thị xã D với giá 400.000₫ sau đó chia thành 02 túi, một túi hẹn bán cho Đỗ Gia H1, túi còn lại cất giấu ở khu vực vệ cỏ cạnh mương nước thuộc thôn T, xã C, thị xã D.

Ngày 15/6/2024, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản truy tìm thu giữ tại vệ cỏ, cạnh mương nước thuộc thôn T xã C, thị xã D 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ, kích thước khoảng (14 x 8,5) cm bên trong có chứa các sợi thảo mộc màu nâu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TG 01”.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Việt A tại thôn Q, xã C, thị xã D; Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không thu giữ tài sản, đồ vật gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Công C tại thôn Đ, xã T, thị xã D. Cơ quan CSĐT Công an thị xã D thu giữ trong ngăn kéo bàn phòng ngủ của Phạm Công C số tiền 360.000đ, được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “KX01”.

Qúa trình bắt giữ Phạm Công C đã thu giữ 01 xe mô tô BKS 90B3 648.35, số khung: RLHJF9530PY104543, số máy: JK18E-0410464.

Tại bản kết luận giám định số 4564/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của V1 - Bộ C2, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong các mẫu sợi thảo mộc màu nâu ký hiệu QT 01, TG 01 gửi giám định. Khối lượng mẫu QT01: 0,684gam; TG01; 2,810gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA có trong mẫu QT 01: 0,001gam. TG01: 0,005gam. “Nằm trong danh mục chất ma tuý theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính Phủ"

Về nguồn gốc ma tuý, qúa trình điều tra các bị cáo Phạm Việt A, Phạm Công C đều khai nhận:

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày 15/6/2024 khi đang ở nhà tại thôn Q, xã C, thị xã D, Phạm Việt A nhận được điện thoại của Đỗ Gia H1, sinh ngày 21/6/2008, trú tại thôn Y, xã M, thị xã D gọi điện từ số 0896.603.487 vào số điện thoại 0932.712.xxx của Phạm Việt A. Việt Anh nghe máy, H1 hỏi “Có cỏ M1 không để cho em gói hai trăm mang ra quán B1-a ở chân cầu Y”, Việt A hiểu ý của H1 muốn hỏi mua của mình 200.000đ tiền ma tuý loại cỏ Mỹ, Việt A trả lời “Có và nói cả công shíp là 250.000đ”, H1 đồng ý. Do khi đó chưa có ma túy loại cỏ Mỹ nên Phạm Việt A sử dụng điện thoại của mình nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Phạm Công C, sinh năm 2004 trú tại thôn Đ, xã T, thị xã D hỏi mua của C 400.000đ tiền ma túy loại cỏ Mỹ, Phạm Công C đồng ý và hẹn Việt A xuống ngã tư đèn xanh, đèn đỏ chợ Đ1 thuộc xã T, thị xã D để giao ma tuý. Sau đó Phạm Việt A một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 90B2- 868.96, trên đường Đ thấy Phạm Công C, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 90B3 - 648.35 đi ngược chiều, khi nhìn thấy nhau C điều khiển xe quay lại dẫn Phạm Việt A đi vào một ngõ nhỏ ở thôn Đ, xã T, thị xã D thì dừng xe lại. Lúc này Phạm Việt A đưa cho C số tiền 400.000₫ gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, Phạm Công C cầm tiền và đưa cho Việt A một túi nilon màu trắng, viền màu đỏ loại túi miệng có kẹp Zip bên trong có chứa các sợi màu nâu là ma túy loại cỏ Mỹ. Sau khi mua được ma túy, Việt A chia số ma túy đó ra thành 02 túi, 01 túi cất giấu ở vệ cỏ gần bờ ao thuộc thôn T, xã C, thị xã D, còn 01 túi ma túy ít hơn Việt A đem đến quán B1 gặp H1 để bán như đã hẹn. Khi đi đến quán B1, Phạm Việt A đi vào trong quán gặp H1, lúc này H1 lấy trong người ra số tiền 250.000đ gồm 01 tờ tiền polime loại mệnh giá 100.000đ và 03 tờ tiền polime loại mệnh giá 50.000đ đưa

cho Phạm Việt A, Việt A cầm tiền H1 đưa bằng tay phải nhưng chưa kịp đưa túi ma túy loại cỏ Mỹ cho H1 thì thị bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 90B2 - 868.96, là phương tiện Phạm Việt A sử dụng đi mua ma tuý của Phạm Công C về bán cho Đỗ Gia H1 ngày 15/6/2024 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn T, sinh năm: 1983, trú tại: thôn Q, xã C, thị xã D (Bố đẻ của Phạm Việt A), khi Phạm Việt A mượn xe mô tô trên để đi lại, anh T không biết Việt A sử dụng để đi mua, bán trái phép chất ma túy, qua tra cứu xác định xe mô tô trên không phải là vật chứng trong vụ án nào khác. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô BKS 90B2 - 868.96 cho anh Phạm Văn T.

Cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 17/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Phạm Việt A về tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phạm Công C về tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm e khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Việt A mức án từ 07(Bẩy) năm 06(Sáu) tháng đến 08(Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
  • + Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Công C mức án từ 30(Ba mươi) tháng đến 36(Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; chuyển hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 48/2022/HSPT ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam thành 24 tháng tù giam; tổng hợp buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 54(Năm mươi bốn) tháng đến 60(Sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

Phạt tiền mỗi bị cáo từ 5.000.000đ(Năm triệu đồng) đến 10.000.000đ(Mười triệu đồng).

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo A, C chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử(HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày 15/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D bắt quả tang Phạm Việt A đang bán trái phép 0,684g “Cỏ Mỹ” có chứa hàm lượng ma tuý loại MDMB-4en-PINACA là 0,001 gam cho anh Đỗ Gia H1 mới 15 tuổi, 11 tháng, 24 ngày với giá 250.000đ thì bị bắt quả tang.

Mở rộng điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D xác định được Phạm Công C trước đó đã bán cho Phạm Việt A 3,494g “Cỏ Mỹ” có chứa hàm lượng ma tuý loại MDMB-4en-PINACA là 0,006 gam với giá 400.000₫.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của Phạm Việt A mua ma tuý loại “Cỏ Mỹ” của Phạm Công C, sau đó bán cho Đỗ Gia H1( là người dưới 16 tuổi) để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của Phạm Công C bán ma tuý loại “Cỏ Mỹ” cho Phạm Việt A nhằm thu lời bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét vai trò của các bị cáo: Phạm Việt A và Phạm Công C thực hiện hành vi vi phạm mang tính độc lập nên phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở tính chất và mức độ hành vi do mỗi bị cáo gây ra cho xã hôi.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về nhân thân: Bị cáo C có nhân thân xấu. Bị cáo Anh chưa có tiền án, tiền sự.
  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo C đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với từng bị cáo là cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để các bị cáo cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Riêng bị cáo C mặc dù đã bị kết án, chưa hết thời gian thử thách bị cáo lại phạm tội mới vì thế cần áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 24 tháng tù giam(tại Bản án hình sự phúc thẩm số 48/2022/HSPT ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam) và tổng hợp với hình phạt của tội mới, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[6] Về các tình tiết khác:

  • + Về nguồn gốc số ma tuý Phạm Công C bán cho Phạm Việt A, do không xác định được người nữ giới bán ma tuý cho C tại khu vực huyện L, tỉnh Hà Nam là ai, ở đâu; ngoài lời khai của C ra không còn căn cứ nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh làm rõ.
  • + Đối với Đỗ Gia H1 do bản thân nghiện ma túy loại “Cỏ Mỹ” nên ngày 15/6/2024, H1 đã liên lạc mua ma tuý của Phạm Việt A để sử dụng. Tuy nhiên, tại thời điểm bị bắt quả tang, Phạm Việt A chưa kịp đưa ma tuý cho Đỗ Gia H1, nên hành vi của H1 không đủ căn cứ cấu thành tội phạm.

[7] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong có số 4564/ KL – KTHS và dấu giáp lai của phòng K- Công an tỉnh H là vật chứng cấm lưu hành, cần tịch thu cho tiêu huỷ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe SH, màu sơn đen. Xe có số máy JK18E – 0410464 và số khung: RLHJF9530PY104543; BKS: 90B3- 648.35. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên không phải là tang vật của vụ án nào, chủ xe theo đăng ký là Phạm Công C. Ngày 15/6/2024 C đã sử dụng xe mô tô của mình để đi bán trái phép chất ma tuý. Do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold, số IMEIL: 352851113002414 thu giữ của Phạm Việt A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ, loại điện thoại đen trắng, có IMEIL: 357723114749787 thu giữ của Đỗ Gia H1, đều sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;

Đối với số tiền 710.000 đồng trong đó 610.000 đồng là số tiền thu giữ của Phạm Việt A và Phạm Công C có được từ việc bán trái phép ma tuý ngày 15/6/2024 nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Còn lại 100.000 đồng là số tiền thu giữ của Phạm Việt A, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Truy thu số tiền 40.000 đồng của bị cáo Phạm Công C do chiếm hưởng từ việc bán ma tuý cho Phạm Việt A ngày 15/6/2024 để sung ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự.

Căn cứ: Điểm e khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Việt A.

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự đối với Phạm Công C.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Việt A, Phạm Công C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Xử phạt: Phạm Việt A 07(Bẩy) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
  • - Xử phạt: Phạm Công C mức án 02(Hai) năm 06(Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; chuyển hình phạt 02(Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 48/2022/HS PT ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam thành 02(Hai) năm tù giam; tổng hợp buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04(Bốn) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.
  • - Phạt tiền các bị cáo Phạm Việt A, Phạm Công C mỗi bị cáo với số tiền 5.000.000đ(Năm) triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 4564/ KL – KTHS và dấu giáp lai của phòng K- Công an tỉnh H.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe SH, màu sơn đen. Xe có số máy JK18E – 0410464 và số khung: RLHJF9530PY104543; BKS: 90B3- 648.35; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold, số IMEIL: 352851113002414; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ, loại điện thoại đen trắng, có IMEIL: 357723114749787 và số tiền 610.000(Sáu trăm mười ngàn) đồng.
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Việt A số tiền 100.000(Một trăm ngàn) đồng.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên). Riêng số tiền 710.000 đồng đã được Công an thị xã D chuyển qua tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên bằng Ủy nhiệm Chi).

3. Truy thu số tiền 40.000(Bốn mươi ngàn) đồng của bị cáo Phạm Công C do chiếm hưởng từ việc bán ma tuý cho Phạm Việt A ngày 15/6/2024 để sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội các bị cáo Phạm Việt A, Phạm Công C mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an T;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã D;
  • - Cơ quan THAHS Công an T;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 130/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Việt Anh, Phạm Công Chất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger