|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phước.
- Bà Hồ Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh ngày 30/11/1985; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Quang H, sinh ngày 01/01/1984; số CCCD: [...]; địa chỉ: Thôn H - B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 07-6-2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Phan Thị L trình bày:
Chị và anh Đặng Quang H do là người cùng địa phương nên có quen biết tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới. Vợ chồng tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/6/2010 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống cùng nhà cha mẹ của anh H tại thôn H-B, xã P. Chị làm công nhân may tại Công ty S, còn anh H đi làm ăn xa.
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, không có tiếng nói chung nguyên nhân do anh H thường xuyên đi làm ăn xa, không có thời gian chăm lo cho vợ con, vợ chồng không có thời gian trao đổi các công việc trong cuộc sống, anh H cũng thờ ơ không phụ giúp chị trong công việc nhà. Đến tháng 8/2012, chị đã không chung sống cùng anh H nữa mà về nhà ngoại tại thôn P, xã P sinh sống từ đó cho đến nay. Thời gian không chung sống đã lâu, vợ chồng không còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, không còn nghĩa vụ giữa vợ chồng. Do vậy, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Đặng Quang H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Quang Hoàng L1, sinh ngày 15/11/2010, từ khi sinh ra con đều ở với chị do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nên nay chị yêu cầu Toà án giao cháu L1 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đặng Quang H trong thời hạn quy định không nộp hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đưa ra yêu cầu phản tố hay ý kiến gì.
Quá trình tố tụng, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh H trình bày ý kiến về về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành được phiên họp cũng như không hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Toà án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 11/9/2024 nhưng anh H vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Tòa án tiếp tục tống đạt Quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập phiên toà lần thứ hai vào ngày 27/9/2024 nhưng anh H tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tại phiên tòa, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Phan Thị L và anh Đặng Quang H chung sống đã đăng ký kết hôn ngày 07/6/2010 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Quang Hoàng L1, sinh ngày 15/11/2010, hiện đang ở với chị L.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh H; giao cháu L1 cho chị L trực tiếp nuôi đến con đến khi cháu L1 tròn 18 tuổi; chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét; tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Đặng Quang H có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn là anh Đặng Quang H được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Đặng Quang H kết hôn có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Chứng nhận kết hôn ngày 07-6-2010. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở trình bày của nguyên đơn; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:
Chị L và anh H mâu thuẫn do bất đồng, không có sự chia sẻ, quan tâm trong cuộc sống hôn nhân. Nguyên nhân là do anh H là đi làm ăn xa, không có sự trao đổi các công việc gia đình, không quan tâm đến vợ, con; lâu dần vợ chồng không có tiếng nói chung, phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2012, vợ chồng chị L, anh H đã không còn chung sống, không còn nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh H không có thiện chí hàn gắn, không có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; không có nghĩa vụ sống chung với nhau theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị L ly hôn. Như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[4] Về con: Chị Phan Thị L và anh Đặng Quang H có 01 con chung là cháu Đặng Quang Hoàng L1, sinh ngày 15/11/2010, hiện đang ở với chị L.
Xét yêu cầu được giao trực tiếp nuôi con chung của chị L, thấy rằng: Từ khi vợ chồng không chung sống, chị L là người trực tiếp nuôi cháu L1; anh H không có trách nhiệm trong việc nuôi con chung. Quá trình tố tụng, anh H vắng mặt nên vợ, chồng không có thỏa thuận gì về việc nuôi con. Chị L có nghề nghiệp và thu nhập ổn định và cháu L1 có nguyện vọng muốn được ở với chị L.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu giao cháu L1 cho chị L trực tiếp nuôi đến khi tròn 18 tuổi là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L. Cho chị Phan Thị L được ly hôn với anh Đặng Quang H; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về nuôi con chung: Giao cháu Đặng Quang Hoàng L1, sinh ngày 15/11/2010 cho chị Phan Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi cháu L1 tròn 18 tuổi. Anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
-
Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000891 ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 130/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 130/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị L và anh Đặng Quang H ly hôn do mâu thuẫn gia đình
