Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Anh Đại

Ông Đào Xuân Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đường Thị Hồng N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/11/1989 tại tỉnh Thái Nguyên; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số G L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đường Văn B, sinh năm 1964, con bà Lương Thị T, sinh năm 1963; chồng tên Trần Quốc T1, sinh năm 1975; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 27/02/2024, bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 3.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, tại Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 27/02/2024, ngày 29/02/2024 đã thi hành xong, nhưng chưa được xóa tiền sự; nhân thân: Năm 2020 bị Công an phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 17/01/2020; đã thi hành xong ngày 17/01/2020; đến ngày 29/11/2013 bị Công an phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 808 ngày 18/01/2014, đã thi hành xong ngày 20/01/2014. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay, có mặt.

2. Lý Thị Y, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/7/1979 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Tổ B, khối G+10, đường L, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Cao Đ (đã chết), con bà Nông Thị N1 (đã chết); chồng: Không có; con: Có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2015 bị Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPVPHC ngày 31/8/2015, đã nộp phạt ngày 31/8/2015. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 03/4/2024 được thay thế áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đên nay, có mặt.

3. Cao Đức H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/7/1979 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Ngõ B N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đức B1, con bà Đặng Thị L (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1979; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/9/2005, bị Công an tỉnh L xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 06/9/2005; ngày 16/7/2024, bị Công an thành phố L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC, đã nộp phạt ngày 17/7/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/5/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 56 phút ngày 28/3/2024, Công an thành phố L đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường L, phường Đ, thành phố L, phát hiện Lý Thị Y đang sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Readmi Note 11, màu xanh để kiểm tra kết quả xổ số miền bắc mở thưởng ngày 28/3/2024 rồi đối chiếu với những số lô, đề mà Lý Thị Y đã bán cho khách trước đó có trúng thưởng hay không, thì bị lực lượng Công an phát hiện. Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI 864028062969544, lắp kèm sim số 0912.245.289 và đưa Lý Thị Y về trụ sở để làm việc.

Tại cơ quan điều tra Lý Thị Y khai nhận, ngày 28/3/2024, trong khi bán nước giải khát, bị cáo còn bán số lô, đề tư nhân cho khách qua đường và bán cho Cao Đức H vào các ngày 13/3, 14/3 và 15/3/2024, dựa theo kết quả số xố miền bắc cùng ngày. Khi bán số lô, đề, Lý Thị Y không ghi vào cáp mà chỉ thỏa thuận miệng với khách rồi tự tổng hợp lại vào điện thoại Redmi Note 11, đến cuối ngày chuyển tin nhắn văn bản với nội dung là những số lô, số đề đã bán, gửi đến số điện thoại 0392.564.xxx của Đường Thị Hồng N (lưu trong danh bạ điện thoại là “N3”) để hưởng lợi. Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đường Thị Hồng N.

Cách tính lô, đề trúng thưởng theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc giữa Lý Thị Y và Đường Thị Hồng N được thống nhất như sau:

Người chơi mua đề 02 số là mua hai chữ số hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền bắc. Nếu số của người mua mà trùng với 02 số hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt kết quả xổ số miền bắc cùng ngày mua thì trúng thưởng và được trả số tiền 70.000 đồng x Số điểm đã mua con số đó.

Người mua số đề 03 số là mua ba chữ số hàng trăm, hàng chục, và hàng đơn vị của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền bắc. Nếu số của người mua mà trùng với 03 số hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt kết quả xổ số miền bắc cùng ngày mua thì trúng thưởng và được trả số tiền 400.000 đồng x Số điểm đã mua con số đó.

Người mua số lô là mua 02 chữ số hàng chục và hàng đơn vị của các giải kết quả xổ số kiến thiết miền bắc. Nếu kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày mua mà hàng chục và hàng đơn vị của các giải có xuất hiện con số của người mua thì người mua trúng thưởng. Số tiền được trả tương ứng với số lần xuất hiện của số trúng tưởng trong toàn bộ cơ cấu giải thưởng x 80.000 đồng x Số điểm lô đã mua.

Người mua số lô xiên (gồm lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4) là người mua cặp 2, 3 hoặc 4 số có 02 chữ số hàng chục và hàng đơn vị của các giải kết quả xổ số kiến thiết miền B. Nếu người mua lô xiên 2 mà hàng chục và hàng đơn vị trong các giải của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc cùng ngày mua xuất hiện đồng thời 02 cặp số thì trúng thưởng và được trả 10.000 đồng x số điểm đã mua 02 cặp số đó. Nếu người mua lô xiên 3 mà kết quả xổ số kiến thiết miền bắc cùng ngày mua xuất hiện đồng thời 03 cặp số thì trúng thưởng và được trả 40.000 đồng x số điểm đã mua 03 cặp số đó. Nếu người mua lô xiên 4 mà kết quả xổ số kiến thiết miền bắc cùng ngày mua xuất hiện đồng thời 04 cặp số thì trúng thưởng và được trả 100.000 đồng x số điểm đã mua 04 cặp số đó.

Lý Thị Y bán các số lô, đề cho khách qua đường rồi chuyển qua điện thoại di động cho Đường Thị Hồng N với giá như sau: Các số đề hai số, ba số, lô xiên bán với giá 800đ/điểm, chuyển cho Đường Thị Hồng N là 750 đồng/điểm; các số lô bán với giá 22.500 đồng/điểm, chuyển cho Đường Thị Hồng N với giá 22.000 đồng/điểm.

Căn cứ tài liệu chứng cứ, kết quả kiểm tra, kết quả xác định tiền đánh bạc, tiền thắng bạc, xác định Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H đã tổ chức đánh bạc, đánh bạc như sau:

1. Hành vi tổ chức đánh bạc của Đường Thị Hồng N: Đường Thị Hồng N có một tiền sự về tội đánh bạc chưa được xóa. Ngày 13/3/2024, Đường Thị Hồng N nhận của Lý Thị Y các số lô 48, 84 mỗi số 50 điểm, tổng 100 điểm lô tương ứng số tiền là 2.200.000đ; căn cứ kết quả xổ số ngày 13/3/2024, khách trúng thưởng 50 điểm lô số 84 tương ứng số tiền 4.000.000đ; tổng số tiền đánh bạc của Đường Thị Hồng N ngày 13/3/2024 là 6.200.000đ; các bị cáo đã thanh toán tiền cho nhau. Ngày 14/3/2024, Đường Thị Hồng N nhận của Lý Thị Y các số lô 03, 30 mỗi số 50 điểm tương ứng số tiền 2.200.000đ, căn cứ kết quả xổ số ngày 14/3/2024, khách trúng thưởng 100 điểm số lô 03, 50 điểm số lô 30 tương ứng số tiền là 12.000.000đ; tổng số tiền đánh bạc của Đường Thị Hồng N ngày 14/3/2024 là 14.200.000đ, các bị cáo đã thanh toán tiền cho nhau. Ngày 15/3/2024, N nhận của Lý Thị Y các số lô 03,30 mỗi số 50 điểm tương ứng số tiền 2.200.000đ; căn cứ kết quả xổ số, ngày 15/3/2024, khách không trúng thưởng; tổng số tiền đánh bạc của Đường Thị Hồng N ngày 15/3/2024 là 2.200.000đ; các bị cáo đã thanh toán tiền cho nhau. Ngày 28/3/2024, Đường Thị Hồng N nhận của Lý Thị Y tổng cộng 3.123 điểm đề hai số, 200 điểm đề ba số, 50 điểm lô xiên và 360 điểm lô tương ứng tổng số tiền là 10.449.750đ và nhận của một số người khác tổng cộng 7360 điểm để hai số, 510 điểm đề ba số, 150 điểm lô xiên và 450 điểm lô tương ứng với số tiền 15.915.000 đồng; căn cứ kết quả xổ số ngày 28/3/2024, khách trúng thưởng 90 điểm đề hai số 79 và 05 điểm lô 86, 20 điểm số lô 96, 05 điểm lô 89, 05 điểm lô 98, 10 điểm lô 15, 20 điểm lô 26, 30 điểm lô 13, tổng cộng 95 điểm lô tương ứng số tiền là 13.900.000đ; tổng số tiền đánh bạc của Đường Thị Hồng N ngày 28/3/2024 là 40.264.750đ; bị cáo Đường Thị Hồng N chưa thanh toán tiền với Lý Thị Y và những người chơi khác. Như vậy, trong các ngày 13, 14, 15 và 28/3/2024 Đường Thị Hồng N đã có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề tư nhân, tính thắng thua bằng tiền, dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày, với Lý Thị Y và một số người qua đường, với tổng số tiền là 62.864.750 đồng.

2. Hành vi đánh bạc của Lý Thị Y và Cao Đức H: Ngày 13/3/2024, Lý Thị Y bán cho Cao Đức H 100 điểm lô tương ứng số tiền là 2.250.000đ. Sau khi tổng hợp lại và chuyển cho Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y được hưởng lợi 50.000đ. Căn cứ kết quả xổ số ngày 13/3/2024, Cao Đức H trúng thưởng 50 điểm lô tương ứng số tiền 4.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của Lý Thị Y và Cao Đức H ngày 13/3/2024 là 6.250.000đ. Ngày 14/3/2024, Lý Thị Y bán cho Cao Đức H các số lô 03, 30 mỗi số 50 điểm tương ứng số tiền 2.250.000đ. Sau khi chuyển cho Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y được hưởng lợi 50.000đ. Căn cứ kết quả xổ số ngày 14/3/2024, Cao Đức H trúng thưởng 100 điểm số lô 03, 50 điểm số lô 30 tương ứng số tiền là 12.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của Lý Thị Y và Cao Đức H ngày 14/3/2024 là 14.250.000đ. Ngày 15/3/2024, Lý Thị Y tiếp tục bán cho Cao Đức H các số lô 03,30 mỗi số 50 điểm tương ứng số tiền 2.250.000đ. Sau khi chuyển cho Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y được hưởng lợi 50.000đ. Căn cứ kết quả xổ số, ngày 15/3/2024, Cao Đức H không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của Lý Thị Y và Cao Đức H ngày 15/3/2024 là 2.250.000 đồng. Số tiền đánh bạc này chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Ngày 28/3/2024, Lý Thị Y bán cho khách qua điện thoại được tổng cộng 3.123 điểm đề hai số, 200 điểm đề ba số, 50 điểm lô xiên và 360 điểm lô tương ứng tổng số tiền là 10.798.400đ. Căn cứ kết quả xổ số ngày 28/3/2024, Lý Thị Y trúng thưởng 80 điểm đề hai số và 35 điểm lô tương ứng số tiền là 8.400.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của Lý Thị Y ngày 28/3/2024 là 19.198.400đ. Ngày 28/3/2024, Lý Thị Y và Đường Thị Hồng N chưa thanh toán tiền với nhau.

Như vậy, trong các ngày 13, 14, và 28/3/2024 Lý Thị Y đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề tư nhân tính thắng thua bằng tiền, dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày với Cao Đức H và một số người qua đường, với tổng số tiền đánh bạc là 39.698.750 đồng. Cao Đức H đã có hành vi đánh bạc với Lý Thị Y bằng hình thức mua số lô, đề trong các ngày 13, 14/3/2024 với tổng số tiền đánh bạc là 20.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKS ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Đường Thị Hồng N về tội "Tổ chức đánh bạc" theo quy định tại các điểm c, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y, Cao Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đường Thị Hồng N phạm tội tội "Tổ chức đánh bạc"; các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H phạm tội Đánh bạc".

Đề nghị áp dụng các điểm c, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đường Thị Hồng N từ 13 (mười ba) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Thị Y từ 09 (chín) tháng đến 11 (mười một) tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Đức H từ 07 (bẩy) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự: Truy thu đối với bị cáo Đương Thị Hồng N2 số tiền 36.415.000 đồng; truy thu đối với bị cáo Lý Thị Y số tiền 10.948.400 đồng và truy thu đối với bị cáo Cao Đức H số tiền 16.000.000 đồng, để sung ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 3 bị cáo, do xét không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của cả 3 bị cáo.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để sung ngân sách Nhà nước và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y, Cao Đức H không ai có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đường Thị Hồng N không có ý kiến trình bày; bị cáo Lý Thị Y xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo để có điều kiện nuôi dạy con; bị cáo Cao Đức H xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo không có việc làm, các con đều còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn kiếm lợi nhuận nhanh chóng từ việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc, nên vào các ngày 13/3, 14/3, 15/3 và ngày 28/3/2024, các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức mua bán số lô, số đề tư nhân, tính thắng - thua bằng tiền, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng hàng ngày. Số tiền đánh bạc được xác định là tiền mà người chơi đã bỏ ra để mua số lô, số đề, cộng với số tiền trúng thưởng của người chơi. Cụ thể: Vào các ngày 13/3, 14/3, 15/3 và ngày 28/3/2024 bị cáo Đường Thị Hồng N đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề tư nhân với Lý Thị Y và một số người qua đường, tổng số tiền tổ chức đánh bạc của bị cáo Đường Thị Hồng N vào các ngày 13/3, 14/3, 15/3 và ngày 28/3/2024 là 62.864.750 đồng, trước đó ngày 27/02/2024 bị cáo Đường Thị Hồng N đã bị Công an thành phố L xử phạt hành chính tại Quyết định số 03/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự nay lại phạm tội, do vậy hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội Tổ chức đánh bạc, theo quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Lý Thị Y, vào các ngày 13, 14 và ngày 28/3/2024 bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề tư nhân với Cao Đức H và một số người qua đường, chuyển cho Đường Thị Hồng N để hưởng lợi nhuận, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Lý Thị Y trong các ngày 13, 14 và ngày 28/3/2024 là 39.698.750 đồng và bị cáo Cao Đức H trong 02 ngày 13 và 14/3/2024 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô đề tư nhân với Lý Thị Y, với tổng số tiền đánh bạc trong 02 ngày trên là 20.500.000 đồng; do vậy hành vi trên của các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H đều phạm vào tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc là một trong những tệ nạn bị xã hội lên án. Đối với từng cá nhân, gia đình thì việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc làm hao tốn tiền của, lãng phí thời gian và có thể là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm hoặc những hậu quả tiêu cực khác. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hiểu rõ việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính.

[4] Để có căn cứ quyết định mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo, cần xem xét đánh giá về tính chất, vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, thấy rằng: Bị cáo Đường Thị Hồng N với vai trò tổ chức, mua số lô, số đề của bị cáo Lý Thị Y và người chơi khác rồi chuyển cho người tên T3 để hưởng phần trăm lợi nhuận chênh lệch. Các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H thực hiện hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đường Thị Hồng N đã tác động gia đình nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn mục đích để khắc phục hậu quả; bị cáo và gia đình tham gia từ thiện, ủng hộ quỹ nhân đạo và khắc phục sau bão, với tổng số tiền là 2.500.000 đồng tại Hội Chữ thập đỏ tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Lý Thị Y có bố đẻ là ông Lý Cao Đ được Nhà nước tặng Huy chương hạng Nhất vào năm 2001 do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; hơn nữa ngày 16/9/2024 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bị cáo Cao Đức H, ngày 23/9/2024 đã tự nguyện nộp số tiền là 11.000.000 đồng, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để khắc phục hậu quả sau bão. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết, được hưởng áp dụng thêm quy định giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H đều thực hiện hành vi phạm tội Tổ chức đánh bạc và đánh bạc vào nhiều ngày, do vậy các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H đều là người có nhân thân xấu, đã bị cơ quan chuyên môn xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi đánh bạc nhưng không sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, cụ thể: Bị cáo Đường Thị Hồng N, ngày 17/01/2020 bị Công an phường V, thành phố L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; ngày 18/01/2014 bị Công an phường V, thành phố L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo Lý Thị Y, ngày 31/8/2015 bị Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng cũng về hành vi đánh bạc. Bị cáo Cao Đức H, ngày 01/9/2005 bị Công an tỉnh L xử phạt số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đến ngày 16/7/2024, bị Công an thành phố L xử phạt 1.500.000 đồng cũng về hành vi đánh bạc.

[8] Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần cách ly các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục các bị cáo và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 3 bị cáo.

[10] Đối với số tiền các bị cáo đã giao nhận cho nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: bị cáo Đường Thị Hồng N đã nhận 32.964.750 đồng; bị cáo Lý Thị Y đã nhận 10.948.400 đồng và bị cáo Cao Đức H đã nhận 16.000.000 đồng, xác định đây đều là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu đối với các bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước, trên cơ sở đối trừ số tiền các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, để buộc các bị cáo thực hiện, cụ thể: Bị cáo Đường Thị Hồng N đã nộp số tiền là 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000319 ngày 16/9/2024, nay buộc bị cáo Đường Thị Hồng N phải nộp tiếp số tiền còn thiếu là 12.964.750 đồng; bị cáo Lý Thị Y đã nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000320 ngày 16/9/2024, nay hoàn trả cho bị cáo Lý Thị Y số tiền là 9.051.600 đồng; bị cáo Cao Đức H đã nộp số tiền 11.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000323 ngày 23/9/2024, nay buộc bị cáo Cao Đức H phải nộp tiếp số tiền còn thiếu là 5.000.000 đồng.

[11] Xét lời luận tội và mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo tại phiên tòa có phần phù hợp, phần chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.

[12] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của 3 bị cáo, gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 màu xanh, số imei: 864028062969544 gắn kèm sim số 0912. 245.289, máy đã qua sử dụng, thu của Lý Thị Y; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus, số imei: 35860707183555 gắn kèm sim số 0392.564.762 máy đã qua sử dụng, thu của Đường Thị Hồng N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, số imei: 355839084670829, lắp sim số 0912.618.215, máy đã qua sử dụng, thu của Cao Đức H, đều là tài sản các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[13] Đối với số thuê bao 0388.574.533 của người phụ nữ tên T3 nhận các số lô, đề của Đường Thị Hồng N, Cơ quan điều tra đã ra lệnh thu giữ điện tín số 466 ngày 31/5/2024 kèm công văn đề nghị cung cấp chủ thông tin thuê bao đến tập đoàn C, nhưng đến nay đã hết thời hạn điều tra vụ án chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[14] Đối với những người khách mua số lô, số đề với bị cáo Đường Thị Hồng N và Lý Thị Y vào ngày 28/3/2024, do các bị cáo không quen biết và không biết địa chỉ cư trú của những người này, nên không có cơ sở để xem xét xử lý, nay Hội đồng xét xử không xem xét.

[15] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[16] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điểm c, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đường Thị Hồng N.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đường Thị Hồng N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đường Thị Hồng N 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/3/2024.

Xử phạt bị cáo Lý Thị Y 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 03/4/2024 (06 ngày).

Xử phạt bị cáo Cao Đức H 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.

3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu đối với các bị cáo gồm: Bị cáo Đường Thị Hồng N 32.964.750 đồng; bị cáo Lý Thị Y 10.948.400 đồng và bị cáo Cao Đức H 16.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Đường Thị Hồng N đã nộp số tiền là 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000319 ngày 16/9/2024, nay buộc bị cáo Đường Thị Hồng N phải nộp tiếp số tiền còn thiếu là 12.964.750 đồng.

Xác nhận bị cáo Lý Thị Y đã nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000320 ngày 16/9/2024, nay hoàn trả cho bị cáo Lý Thị Y số tiền là 9.051.600 đồng.

Xác nhận bị cáo Cao Đức H đã nộp số tiền 11.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên lai thu tiền số 0000323 ngày 23/9/2024, nay buộc bị cáo Cao Đức H phải nộp tiếp số tiền còn thiếu là 5.000.000 đồng.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động, gôm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 màu xanh, số imei: 864028062969544 gắn kèm sim số 0912. 245.289, máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus, số imei: 35860707183555 gắn kèm sim số 0392.564.762 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, số imei: 355839084670829, lắp sim số 0912.618.215, máy đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/9/2024).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Đường Thị Hồng N, Lý Thị Y và Cao Đức H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Công an thành phố Lạng Sơn (02 bản);
  • - Chi cục THADS TP Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đường Thị Hồng N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Lý Thị Y và Cao Đức H phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger