TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 130/2024/HSST Ngày: 21-6-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thắng
Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên toà:
Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B; sinh năm 1972; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký thường trú: số 10B 5 tầng số 6 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: số A đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/10; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Trần Thị N; vợ Trần Thị H, sinh năm 1978; có 01 con; tiền án: Ngày 11-6-2002 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 11-3-1992 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 20-10-1992, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Hà xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 03-02-1996 Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; ngày 07-8-1998 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 28-3-2013 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-9-2015); ngày 26-9-2018 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 03 năm 09 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21-02-2022); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-4-2024, chuyển tạm giam ngày 18-4-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1969; nơi cư trú: số A đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 12-4-2024 Nguyễn Văn B đi bộ lang thang trên đường N, phường T, thành phố N mục đích tìm kiếm tài sản sở hở để trộm cắp. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà B đường N, phường T, thành phố N (trước cửa nhà đang dựng rạp đám hiếu) B phát hiện bên trong rạp có bà Trần Thị Đ, sinh năm 1969, trú tại số A T, phường M, thành phố N và bà Trần Thị N1, sinh năm 1965, trú tại tổ G V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh đang nằm ngủ ở vỉa hè, bên cạnh bà Đ có để 01 điện thoại di động OPPO A54 màu xanh (đã cũ) và 01 túi xách giả da màu đen (đều là tài sản của bà Đ). Thấy hai người đang ngủ say, B đi đến dùng tay phải lấy điện thoại di động OPPO cất giấu và trong túi quần phía trước bên phải, dùng tay trái lấy chiếc túi xách giả da màu đen rồi đi về nhà tại địa chỉ số A đường N, phường T, thành phố N. B kiểm tra túi xách thấy bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 8Plus 64GB màu trắng đã cũ và số tiền 3.890.000 đồng.
Khoảng 03 giờ cùng ngày, bà Đ ngủ dậy thấy bị mất trộm tài sản trên nên đã đến Công an phường T, thành phố N trình báo. Xác định Nguyễn Văn B là đối tượng nghi vấn. Công an phường T đã triệu tập Nguyễn Văn B lên làm việc, B đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản vừa trộm cắp và khai nhận hành vi phạm tội.
Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 15-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận:
Chiếc điện thoại di động OPPO A54, số imeil: 862942051690873, số imei2: 862942051690865, đã qua sử dụng có giá trị là 1.930.000 đồng. Chiếc điện thoại di động Iphone 8Plus, 64GB, số imeil: 354836096914022 đã qua sử dụng có giá trị là 3.340.000 đồng. Tổng cộng: 5.270.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 đoạn video ghi nhận sự việc lưu giữ trong camera an ninh lắp đặt tại khu vực trước của số nhà B đường N, phường T, thành phố N.
Bản kết luận giám định số 785/KLGĐ, ngày 02-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Đối với chiếc túi xách giả da màu đen, không có giá trị nên bà Đ không đề nghị định giá tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số tài sản trên cho bà Trần Thị Đ, bà Đ nhận lại và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số 128/CT-VKSND-TPNĐ ngày 28-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định bổ sung bản cáo trạng áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt của bị cáo.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, án phí bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra và tại phiên toà, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận định giá tài sản số 785 ngày 02-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 12-4-2024 Nguyễn Văn B đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động OPPO A54 màu xanh và 01 túi xách giả da màu đen bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 8Plus 64GB màu trắng và số tiền 3.890.000 đồng của bà Trần Thị Đ, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.160.000 đồng, tại khu vực trước cửa số nhà B đường N, phường T, thành phố N.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ nhưng vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả (bị cáo giao nộp lại túi xách giả da và số tiền 3.890.000 đồng, chiếc điện thoại OPPO A54 và chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus) do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi trộm cắp tài sản gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã rất nhiều lần bị kết án và đã được xóa án tích. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Văn B không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là bà Trần Thị Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường phần dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn B được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Trần Thị Đ có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 12-4-2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tống Thị Kim Phượng |
Bản án số 130/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 130/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
