Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HSST

Ngày 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỎ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tôn;

Bà Nguyễn Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXX ngày 07/8/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đặng Thiền N

Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1990;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con bà Nguyễn Thị H (tên gọi khác: Nguyễn Thị N1); Không xác định được bố là ai. Bị cáo không có chồng; Có 01 con sinh năm 2015.

Tiền án: (01). Tại Bản án số 13/2023/HSST ngày 16/01/2023 Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong bản án ngày 06/11/2023, chưa được xóa án tích).

Tiền sự: (01). Năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn tại Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 15/7/2022 (chấp hành xong ngày 14/10/2022).

Nhân thân:

  • - Năm 2007, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 50/2007/HSST ngày 03/12/2007 (đã chấp hành xong bản án).
  • - Năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án số 28/2008/HSST ngày 27/6/2008 (đã chấp hành xong bản án);
  • - Năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức “Phạt tiền” tại Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC ngày 18/5/2022 (đã hết thời hiệu thi hành quyết định).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

* Bị hại: Chị Phạm Thị Minh H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(chị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1996; Địa chỉ: TDP Đ, phường B, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến: Bà Mao Thị T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường B, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(anh T, bà T1 đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đặng Thiền N là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định và có tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 29/02/2024, N đi bộ đến khu vực quán C tại tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên của chị Phạm Thị Minh H1. Đến nơi, N đi lên cầu thang phía ngoài hành lang của quán C để lên tầng 2 của quán C. Sau khi lên tầng 2 của quán C, N trèo qua lan can sang ban công tầng 2 của quán C. N đi dọc theo ban công ra góc quán, sau đó N bước chân lên 01 chiếc ghế kim loại đã kê sẵn, dùng tay bám vào khung kim loại của trần nhà, trèo qua ô thoáng khu vực hàng rào rồi đột nhập vào bên trong tầng 1 của quán C để tìm tài sản trộm cắp. Lúc này tại quán không có ai trông coi, quản lý. N nhìn thấy ở ban thần tài đặt tại góc quán có để nhiều tờ tiền ở trên đĩa, N cúi xuống lấy các tờ tiền ở ban thần tài đút vào túi áo mưa mặc trên người. Sau đó, N đi vào phòng kho mở tủ lạnh tìm đồ ăn nhưng không lấy gì. N tiếp tục đi ra quầy thu ngân thì phát hiện thấy có 01 hộp sắt có cắm chìa khóa ở ổ khóa đặt trên bàn. N mở khóa rồi kéo ngăn hộp sắt ra thì phát hiện thấy các ngăn có để tiền, N đã lấy một số tờ tiền ở trong ngăn của hộp sắt rồi cho vào túi áo mưa đang mặc. Sau đó N đi lên tầng 2 của quán rồi mở cửa ra ngoài đi về. Số tiền N lấy ở ban thần tài N để trong túi áo mưa sau đó đã bị rơi mất trên đường đi về nhà, còn số tiền lấy ở hộp sắt tại quầy thu ngân N đã chi tiêu cá nhân hết.

Cùng ngày 29/02/2024, chị Phạm Thị Minh H1 đến quán cà phê L của mình để làm việc thì phát hiện bị kẻ gian đột nhập vào quán trộm cắp tài sản nên đến ngày 01/3/2024 chị H1 đã trình báo sự việc tới Công an phường B, thành phố P đề nghị giải quyết. Đến khoảng 04 giờ ngày 03/3/2024, N tiếp tục đột nhập vào quán C để trộm cắp tài sản thì bị anh Phạm Văn T (quản lý quán C) phát hiện, trình báo Công an phường B, thành phố P. Sau khi bị phát hiện, N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp vào ngày 29/02/2024 tại quán C như nêu trên. Sau đó, Công an phường B đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra N khai nhận vào ngày 29/02/2024, N lấy 06 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), tổng cộng là 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) trong hộp sắt đặt ở quầy thu ngân của quán cà phê L còn số tiền N lấy tại ban thần tài ở góc quán C1 không xác định được là bao nhiêu tiền, số tiền này N cũng đã bị rơi mất trên đường về nhà. Theo chị Phạm Thị Minh H1 khai thì chị H1 bị mất khoảng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ở ban thần tài đặt tại quán cà phê L và bị mất 220.000 đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) ở trong hộp sắt đặt tại quầy thu ngân. Tuy nhiên tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ chứng minh tổng số tiền N trộm cắp là 3.220.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) của chị H1. Áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội xác định tổng số tiền N trộm cắp tại quán C vào ngày 29/02/2024 là 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án: 01 chiếc áo mưa màu đen-đỏ, niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý; 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera thu tại hiện trường, niêm phong trong phong bì ký hiệu B, được lưu vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Minh H1 không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 113/CT-VKSPY ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Đặng Thiền N về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên rút một phần quyết định truy tố, cụ thể: Tại bản Cáo trạng, VKSND TP Phổ Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đặng Thiển N2 về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên toà ngày hôm nay, VKSND T.P Phổ Yên rút một phần quyết định truy tố tại điểm a khoản 1 Điểu 173 BTHS, cụ thể:

Tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo đã được xóa vi phạm đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPVPHC ngày 18/5/2022 của UBND phường B, thành phố P. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điểu 173 BLHS, đó là: b) Đã bị kết án về tội này... của Bộ luật này, chua được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; Thừa nhận việc truy tố, rút một phần truy tố và xét xử bị cáo với tội danh, điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát thực quyền công tố tại phiên toà luận tội:

Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và quyết định rút một phần quyết định truy tố. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo N từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Minh H1 không yêu cầu N phải bồi thường nên không đặt ra việc giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo mưa màu đen đỏ, niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1.
  • - Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera thu tại hiện trường, niêm phong trong phong bì ký hiệu B.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì, nhất trí với bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; Người chứng kiến, người làm chứng vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ được lưu trong hồ sơ vụ án, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 04 giờ 50 ngày 29/02/2024, tại quán C thuộc tổ dân phố Y, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Đặng Thiền N đã có hành vi trộm cắp số tiền 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) của chị Phạm Thị Minh H1. Tài sản N trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng N đã có tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi nêu trên của N đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 113/CT-VKSPY ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N về tội danh, điều luật viện dẫn là có căn cứ.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này... của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; ...”.

[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức, được pháp luật hình sự bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, đã từng bị xét xử 03 lần cùng về loại tội Xâm phạm sở hữu. Lần phạm tội này tuy số tiền bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng) nhưng bị cáo có tiền án, chưa được xoá án tích nên đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Để có tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma tuý, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã nhiều lần phải chịu trách nhiệm hình sự pháp luật về loại tội xâm phạm sở hữu nhưng sau khi trở về địa phương bị cáo lấy đó làm bài học sâu sắc để tu dưỡng, thay đổi, từ bỏ ma tuý để trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội mà ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định, nghiêm khắc hơn mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ cần được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra vấn đề giải quyết do bị hại không yêu cầu bồi thường.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc áo mưa màu đen đỏ, niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1 bị cáo mặc để đi trộm cắp tài sản và cất giấu số tiền chiếm đoạt được, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera thu tại hiện trường, niêm phong trong phong bì ký hiệu B.

[9]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Về vấn đề khác: Không.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 106, 136, 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 08/5/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đặng Thiền N.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - VKSND thành phố Phổ yên;
  • - Thi hành án thành phố Phổ Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 130/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đặng Thiền N bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger