TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 130/2024/HS-ST
Ngày 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Phương
2. Bà Trần Thị Hậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/HS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, (Tên gọi khác: Tuấn P) ; Giới tính: N; Sinh năm: 1993 tại: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi cư trú: thôn B, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1954 (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị B, sinh năm: 1964; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con. Tiền án: có 01 tiền án tại Bản án số 157/2014/HSST ngày 16/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P), tỉnh BR-VT xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Nhân thân: Tại Bản án 16/2016/HSST ngày 01/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P), tỉnh BR-VT xử phạt 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/5/2024 đến ngày 10/5/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
Bị hại: Quản Bá N1, sinh năm: 1969; Địa chỉ: tổ C, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Xuân H1, sinh năm: 1999; Địa chỉ: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt)
Người làm chứng:
- Ông Tạ Văn O, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Chung H2, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Phạm Quang T1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Ngô Trường Q, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Xuân H1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T là nhân viên phục vụ của quán K, địa chỉ: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khoảng tối ngày 07/01/2022, ông Quản Bá N1 đến quán K để ngồi nhậu cùng hai người bạn. Qúa trình ông N1 ngồi nhậu, khi thấy T đi ngang qua, giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, T bực tức định đánh ông N1 thì được mọi người can ngăn nên T bỏ đi ra khỏi quán. Đến khoảng 0 giờ 04 phút ngày 08/01/2022, T đi bộ về lại quán, trên đường đi về thì gặp hai người bạn của T là anh Tạ Văn O và anh Chung H2 đang điều khiển xe máy lại quán K để mua nước đá nên T được anh O và anh H2 chở về quán. Vừa về đến quán, khi thấy ông N1 đang chuẩn bị dắt xe ra về, T nhớ lại mâu thuẫn với ông N1 trước đó nên bực tức, T liền nhặt con dao bằng kim loại, cán màu đen dài khoảng 40cm có sẵn tại gốc cây trước cửa quán rồi đi lại gần ông N1, giơ dao lên chém trúng vào cẳng tay trái, bàn tay trái gây thương tích cho ông N1, ông N1 bỏ chạy vào phía bên trong quán thì T tiếp tục tiến lại gần, chém vào vai trái gây thương tích cho ông N1 rồi quay lưng định bỏ đi thì bị ông N1 kéo ôm ghì cổ T lại. Lúc này, anh O đang đứng phía trước cửa quán liền đi lại gần cầm ghế nhựa có sẵn trong quán ném vào lưng ông N1 để giải vây cho T. Sau khi bị anh O ném ghế, ông N1 buông T ra, anh O nói T đi về, T cầm dao ra về cùng anh O và anh H2, ông N1 bị thương đi điều trị tại Bệnh viện B1.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 59/TgT ngày 22/02/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định: 01 sẹo lớn, 01 sẹo trung bình, 03 sẹo nhỏ; Gãy mỏm khuỷu xương trụ, hiện còn dụng cụ kết hợp xương, cẳng tay gấp duỗi được trong khoảng trên 5 đến 145".
2.Về vật tác động, cơ chế hình thành vết thương:
- Thương tích 1: Được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.
- Thương tích 2: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết chém hay băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải.
- Thương tích 3, 4, 5: Khả năng do một lần tác động gây ra. Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết chém hay băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.
3.Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 20% (Hai mươi phần trăm) (BL:49-53).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (BL 98-103).
Sau khi gây thương tích cho ông N1, Nguyễn Thanh T đã bỏ trốn. Ngày 11/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can, quyết định truy nã đối với Nguyễn Thanh T. Ngày 07/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P bắt được T. Qúa trình điều tra, Nguyễn Thanh T đã khai nhận hành vi gây thương tích cho ông Quản Bá N1 như đã nêu trên (BL: 96-125).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với anh Tạ Văn O có hành vi dùng ghế nhựa ném vào lưng ông N1 nhưng không gây thương tích: Anh O không bàn bạc, thống nhất với T về việc gây thương tích cho ông N1. Anh O ném ghế vào lưng ông N1 sau khi T đã kết thúc hành vi gây thương tích cho ông N1, mục đích ném ghế là để giải vây cho T. Do đó, hành vi của anh Tạ Văn O không đồng phạm với Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về phần dân sự: Sau khi gây thương tích cho bị hại, Nguyễn Thanh T đã bồi thường cho bị hại số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Bị hại đã nhận số tiền nêu trên, không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Việc xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, cán màu đen dài khoảng 40cm sau khi dùng để gây thương tích cho bị hại, T đã vứt bỏ. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không thu giữ được.
Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKSTPBR ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” là tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu PICM dung lượng 16G chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi của bị cáo được trích xuất từ camera giám sát tại quán K ghi do bà Phạm Thị Xuân H1 giao nộp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 0 giờ 04 phút ngày 08/01/2022 tại quán K, địa chỉ: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do bực tức vì mâu thuẫn cãi vã với ông Quản Bá N1, Nguyễn Thanh T đã có hành vi dùng 01 (một) con dao bằng kim loại, cán màu đen dài khoảng 40cm chém vào vai trái, cẳng tay trái, bàn tay trái gây thương tích cho ông Quản Bá N1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với ông Quản Bá N1 là 20% (Hai mươi phần trăm).
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và các điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Bản cáo trạng số 118/CT- VKSTXPM ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng tại địa phương, thể hiện sự coi thường pháp luật.Vì vậy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án 16/2016/HSST ngày 01/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 157/2014/HSST ngày 16/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P), tỉnh BR-VT. Bị cáo đã chấp hành xong hình phát tù và khoản án phí. Tuy nhiên, bị cáo chưa thi hành phần trách nhiệm dân sự. Do đó, bị cáo chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn bãi nại nên được xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[ 5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), anh N1 không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tiếp tục tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu PICM dung lượng 16G chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi của bị cáo được trích xuất từ camera giám sát tại quán K ghi do bà Phạm Thị Xuân H1 giao nộp.
[7.]. Các vấn đề khác: Đối với anh Tạ Văn O có hành vi dùng ghế nhựa ném vào lưng ông N1 nhưng không gây thương tích: do Anh O không bàn bạc, thống nhất với T về việc gây thương tích cho ông N1. Anh O ném ghế vào lưng ông N1 sau khi T đã kết thúc hành vi gây thương tích cho ông N1, mục đích ném ghế là để giải vây cho T. Do đó, hành vi của anh Tạ Văn O không đồng phạm với Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:Tiếp tục tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu PICM dung lượng 16G chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi của bị cáo được trích xuất từ camera giám sát tại quán K ghi đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ “Công an thị xã P”do bà Phạm Thị Xuân H1 giao nộp.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thuỳ Trang |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyen thanh t
