TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày: 20-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kiều Thu, ông Đỗ Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lục Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1999 tại Bình Thuận
Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Hoàng S và bà Nguyễn Thị N; chung sống như vợ chồng với bà Trương Thị Đ; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2023, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: không; tiền sự: ngày 04/7/2023 bị Công an xã H, huyện H xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029234/QĐ-XPHC; nhân thân:
- Ngày 20/02/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Ngày 07/4/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H khởi tố về tội “Cướp tài sản”.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 2006 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu phố B, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 07/10/2023, Lục Nguyễn Hoàng T2 lên mạng xã hội Facebook đăng nhập tài khoản “Tiến LN H” rồi vào trang nhóm “Chợ mua bán phụ tùng, xe máy P” để tìm kiếm xe mô tô thì thấy tài khoản Facebook tên “Vănn T1” của ông Phạm Văn T1 đăng bán 01 chiếc xe mô tô hiệu Exciter, biển số 86B3-233.91 với giá 13.500.000 đồng. Thấy vậy, T2 nhắn tin với ông T1 hẹn 21 giờ 30 phút ngày 07/10/2023 mang xe đến trước cửa hàng tôn thép Hiển V gần cây xăng số 9, thuộc phường X, thành phố P để T2 xem xe thì ông T1 đồng ý. Như đã hẹn, ông T1 điều khiển chiếc xe trên và đi cùng với bạn là ông Nguyễn Văn P đến địa điểm đã hẹn thì gặp T2. Lúc này, T2 xem xe rồi giả vờ đồng ý mua với giá 13.500.000 đồng. Do muốn chiếm đoạt chiếc xe trên của ông T1 nên T2 lấy lý do ở đây không có giấy tờ để làm hợp đồng mua bán và yêu cầu ông T1 đi cùng với T2 về nhà ở xã P để làm hợp đồng và trả tiền xe thì ông T1 đồng ý và giao xe mô tô biển số 86B3-233.91 để T2 điều khiển chở ông T1, ông P điều khiển xe mô tô của ông P đi theo sau. Khi T2 điều khiển xe đi đến đầu hẻm N thuộc thôn X, xã P, thành phố P thì T2 dừng xe lại nói ông T1 đứng đợi để T2 đi bộ vào nhà lấy giấy làm hợp đồng và lấy tiền. Khoảng 05 phút sau, T2 đi bộ ra tiếp tục nói ông T1 đưa xe để T2 chạy vào nhà để mẹ T2 xem xe thì ông T1 tin tưởng giao xe cho T2. Lúc này, ông T1 nhờ ông P ngồi phía sau xe mô tô biển số 86B3-233.91 đi cùng với T2. Khi đi đến trước nhà trọ M thì T2 yêu cầu ông P xuống xe để T2 một mình điều khiển xe vào nhà thì ông P xuống xe. Lúc này, T2 điều khiển xe về nhà của T2 tại thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cất giấu. Đến 14 giờ 30 phút ngày 08/10/2023, T2 tháo toàn bộ dàn áo xe và sơn lại từ màu trắng đen thành màu đen để tránh bị phát hiện, đồng thời khoá tài khoản Facebook “T2 LN H” để ông T1 không liên hệ được với T2.
Sau khi biết bị T2 chiếm đoạt tài sản thì ông T1 đã đến Công an xã P, thành phố P trình báo sự việc. Qua xác minh, đến 23 giờ 30 phút ngày 08/10/2023, T2 bị Công an xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận mời về trụ sở để làm việc. Tại đây, T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng của vụ án (thu giữ từ Lục Nguyễn Hoàng T2):
- 01 chiếc xe mô tô biển số 86B3-233.91, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số máy: 55P1256195, số khung: 5P10DY356176.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B3-233.91.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 269/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 chiếc xe mô tô biển số 86B3-233.91, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số máy: 55P1256195, số khung: 5P10DY356176, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, trị giá: 5.333.333 đồng.
Xử lý vật chứng và dân sự: Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 86B3-233.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Phạm Văn T1. Ông T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/10/2023, do không có phương tiện đi lại nên Lục Nguyễn Hoàng T2 đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển số 86B3-233.91, trị giá 5.333.333 đồng của ông Phạm Văn T1 tại thôn X, xã P, thành phố P.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện lao động để tạo ra vật chất nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo trước đây đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, đang bị tạm giam. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về dân sự:
Bị hại ông Phạm Văn T1 đã nhận lại tài sản gồm 01 chiếc xe mô tô biển số 86B3-233.91, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter và giấy chứng nhận đăng ký xe, không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lục Nguyễn Hoàng T2 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2024). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tuyên bố bị cáo Lục Nguyễn Hoàng Tiến phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" Xử phạt bị cáo Lục Nguyễn Hoàng Tiến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
