|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:130/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và ông Phạm Công Gia.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1988 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp E, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1929 và bà Đinh Thị Ngọc S, sinh năm 1950; chồng: Lê Anh T1, sinh năm 1986, con: Có 02 lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 30/12/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T5 từ ngày 26/12/2023 (vắng mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1981 (Có mặt).
- Chị Trần Thị T3, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Tuấn Đ1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- Nguyễn Nhựt B1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ngọc T sinh năm 1988, ngụ ấp E, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai bị xử phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 112/2021/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Do Nguyễn Thị Ngọc T đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên được hoãn thi hành án phạt tù. Khi có quyết định thi hành án, Nguyễn Thị Ngọc T bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 06/02/2023 Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đ ra quyết định truy nã số 01/QĐTN-CQTHAHS-PC10 đối với bị án Nguyễn Thị Ngọc T.
Quá trình trốn truy nã, T quen biết chị Phạm Thị T2 sinh năm 1981 và anh Nguyễn Văn Đ sinh năm 1988, đều ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Biết anh Đ và chị T2 đang cần tìm việc làm nên T đã đưa thông tin gian dối về việc sẽ giới thiệu cho anh Đ và chị T2 làm việc tại vựa bưởi "Nhựt Bình", công việc cụ thể là đi theo xe giao bưởi và thu tiên mua, bán bưởi, lương mỗi tháng từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, qua đó T đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của anh Đ, cụ thể:
Vào khoảng đầu tháng 6/2023, T nói với anh Đ muốn làm ở Vựa bưởi “Nhựt Bình”, cần phải đóng tiền thế chân (tiền cọc giữ chỗ làm việc) là 4.500.000 đồng và 750.000 đồng tiền đồng phục, số tiền này anh Đ đưa trực tiếp cho T tại chợ P thuộc xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, sau khi T nhận tiền xong thì hứa hẹn khoảng 10 ngày sau có việc làm sẽ gọi điện cho anh Đ.
Nhằm mục đích tiếp tục chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn Đ và chị Phạm Thị T2, Nguyễn Thị Ngọc T đã chủ động liên hệ, nắm được thông tin chủ Vựa bưởi “Nhựt Bình” tên là B1 (Nguyễn Nhựt B1), T đã đến gặp anh Nguyễn Tấn Đ2 là chủ tiệm mua bán điện thoại và dịch vụ chuyển tiền tại khu B thị trấn T, huyện T, xin số tài khoản của anh Đ2 để chuyển tiền nên được anh Đ2 cung cấp số tài khoản của anh Đ2 là 0241004081358 thuộc ngân hàng V1 cho T, T nói với anh Đ2 có người nào chuyển tiền đến số tài khoản của anh Đ2 với nội dung "Nguyễn Văn Đ chuyển khoản chị B1" thì nhận tiền và rút tiền mặt đưa cho T. Sau đó T đưa số tài khoản của anh Đ2 cho anh Đ và nói dối anh Đ2 là kế toán của V bưởi “Nhựt Bình", T dặn anh Đ chuyển tiền vào số tài khoản của anh Đ2 với nội dung “Nguyễn Văn Đ chuyển khoản chị B1". Do tin tưởng vào các thông tin giả Nguyễn Thị Ngọc T đưa ra, anh Nguyễn Văn Đ đã nhiều lần chuyển khoản theo yêu cầu của T như sau:
- Ngày 23/6/2023, T gọi điện cho anh Đ nói xe giao bưởi hiện có tuyến đi đường dài nên cần đóng số tiền 16.000.000 đồng để thế tiền hàng thì chủ hàng mới yên tâm cho anh Đ làm việc, rồi yêu cầu anh Đ chuyển vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2. Cùng ngày, anh Đ đã chuyển số tiền 16.000.000 đồng theo yêu cầu của T.
- Ngày 29/6/2023, T hứa hẹn xin việc làm cho chị Phạm Thị T2 và yêu cầu đóng số tiền 5.000.000 đồng tiền thế chân cho chị T2, anh đời đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
-Ngày 30/6/2023, T yêu cầu đóng số tiền 1.200.000 đồng để làm thẻ ATM cho anh Đ và chị T2, anh Đ đã chuyển số tiền 1.200.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
-Ngày 03/7/2023, T yêu cầu đóng số tiền 2.000.000 đồng để mua đồng phục cho T2, anh Đ đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
-Ngày 07/7/2023, T yêu cầu đóng số tiền 14.000.000 tiền thế chân để chị T2 đi cùng xe tải giao bưởi thu tiền trên tuyến đường dài, anh Đ chuyển số tiền 14.000.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
- Ngày 14/7/2023 và ngày 19/07/2023, T yêu cầu anh Đ và chị T2 chuyển mỗi người 5.710.000 đồng tiền mua bảo hiểm cho anh Đ và chị T2, anh Đ đã chuyển số tiền 11.420.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
- Ngày 03/8/2023, T yêu cầu chuyển số tiền 6.000.000 đồng để mua bằng cấp 2 (trung học cơ sở) cho anh Đ và chị T2 làm thủ tục, hồ sơ xin việc làm, anh Đ đã chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào số tài khoản 0241004081358 V1 của anh Nguyễn Tấn Đ2 theo yêu cầu của T.
Do chờ đợi lâu nhưng anh Đ không thấy T gọi điện đi làm, anh Đ đến tìm anh Đ2 và được biết anh Đ2 không phải là kế toán vựa bưởi Nhựt B1 theo lời giới thiệu của T, tất cả số tiền anh Đ gửi cho anh Đ2 theo yêu cầu của T, anh Đ2 đều nhận được và T đã đến lấy toàn bộ số tiền trên.
Như vậy tổng số tiền Nguyễn Thị Ngọc T đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Đ là 60.370.000 (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi ngàn) đồng
Tại Bản Cáo trạng số 120/CT-VKSTP-ĐN ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, áp dụng: Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 56, điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 15 (mười lăm) năm đến 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Đ yêu cầu Nguyễn Thị Ngọc T phải trả lại anh Đ toàn bộ số tiền T đã chiếm đoạt của anh Đ là 60.370.000 đồng (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Hiện Nguyễn Thị Ngọc T chưa bồi thường, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T phải trả lại cho anh Đ số tiền đã chiếm đoạt là 60.370.000 đồng.
Đối với chị Phạm Thị T2: Mặc dù bị Nguyễn Thị Ngọc T đưa ra các thông tin gian dối về việc giới thiệu việc làm cho chị T2 và yêu cầu chị T2 phải nộp các khoản tiền nhưng toàn bộ số tiền T lừa đảo chị T2 đều là tiền của anh Nguyễn Văn Đ (anh Đ tự nguyện bỏ tiền ra giúp chị T2 xin việc làm theo yêu cầu của T). Do chị T2 không bị thiệt hại gì nên chị T2 không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Trong thời gian trốn truy nã, Nguyễn Thị Ngọc T còn có hành vi vay của chị Trần Thị T3, sinh năm 1983, ngụ ấp P xã P, huyện T 10.000.000 đồng, T đã trả lại tiền cho chị T3 4.000.000 đồng, còn nợ chị T4 6.000.000 đồng. Quá trình điều tra đã làm rõ được đây là quan hệ về dân sự, chị T3 không yêu cầu xử lý nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên;
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị hại anh Nguyễn Văn Đ trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo phải trả lại cho anh toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 60.370.000 đồng(sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị cáo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe không ổn, đi lại khó khăn được Hội đồng xét xử chấp nhận, căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của pháp luật.
[3]. Về tội danh:
Căn cứ vào nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Nguyễn Thị Ngọc T có 01 tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T chưa chấp hành án do bỏ trốn và đã bị ra quyết định truy nã. Quá trình trốn truy nã, trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6/2023 đến ngày 03/8/2023, tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nhằm có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thị Ngọc T đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc giới thiệu việc làm cho anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 và chị Phạm Thị T2, sinh năm 1981. Qua đó Nguyễn Thị Ngọc T đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Đ số tiền 60.370.000 đồng (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Trong thời gian đang được hoãn chấp hành án 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 112/2021/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai, do bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nhưng bị cáo lại bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 06/02/2023 Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đ ra quyết định truy nã, trong thời gian bỏ trốn bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, qua đó thể hiện bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân, thể hiện thái độ xem thường pháp luật.
Vì vậy, cần có hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo:
- [4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
- [4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con đang còn nhỏ. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[5]. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T, ngoài hành vi phạm tội bị xử phạt trong vụ án này, bị cáo còn phạm tội khác và bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2021/HS-ST ngày 30/12/2021. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
[6]. Về các biện pháp tư pháp:
- [6.1]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo phải trả lại cho bị hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 60.370.000 đồng (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Xét yêu cầu này của bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị cáo T phải trả lại cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 60.370.000 đồng (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Đối với chị Phạm Thị T2: Mặc dù bị Nguyễn Thị Ngọc T đưa ra các thông tin gian dối về việc giới thiệu việc làm cho chị T2 và yêu cầu chị T2 phải nộp các khoản tiền nhưng toàn bộ số tiền T lừa đảo chị T2 đều là tiền của anh Nguyễn Văn Đ (anh Đ tự nguyện bỏ tiền ra giúp chị T2 xin việc làm theo yêu cầu của T). Do chị T2 không bị thiệt hại gì nên chị T2 không yêu cầu bồi thường về dân sự.
- [7]. Những vấn đề khác: Trong thời gian trốn truy nã, Nguyễn Thị Ngọc T còn có hành vi vay của chị Trần Thị T3, sinh năm 1983, ngụ ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai 10.000.000 đồng, T đã trả lại tiền cho chị T3 4.000.000 đồng, còn nợ chị T4 6.000.000 đồng. Quá trình điều tra đã làm rõ được đây là quan hệ về dân sự, chị T3 không yêu cầu xử lý nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
- [8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
- [9]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 56; Điều 38, điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- - Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
- - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Đ số tiền 60.370.000 đồng (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.018.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T3 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (criminal case)
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Criminal case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
