Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày: 18 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền

2. Ông Quàng Văn Tại

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lợi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Lường Phương T - Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 04/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 26 tháng 12 năm 1975 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản V, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 7; nghề nghiệp: Nông nghiệp; con ông: Lò Văn S (đã chết); con bà: Lò Thị H, sinh năm 1922; vợ: Năm 1995 đến năm 1996 bị cáo chung sống như vợ chồng với Lò Thị X, sinh năm 1979 và có 01 người con; tiền sự: Không. Tiền án: 03 tiền án: Bản án số 13/HS-ST ngày 01/02/1999 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn L 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 23/01/2004 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 19/2005/HS-ST ngày 02/3/2005 của Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt Lò Văn L 30 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, ngày 07/6/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 25/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Lò Văn L 20 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 27/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện các bản án trên đều chưa được xoá án tích.

Bị cáo Lò Văn L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

1

2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Triệu Thị H1, Là luật sư thực hiện Trợ giúp của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, Lò Văn L một mình đi bộ từ lán trại công trình xây dựng tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại khu vực đường thuộc bản Che Phai 1, xã C, L đã gặp, trao đổi và mua được của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 50.000 đồng. Sau đó, L cầm gói H2 vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về bản T, xã C. Trên đường về L đã vào một bụi cây ven đường cấu lấy 01 ít Heroine để sử dụng bằng hình thức hút. Số H2 còn lại Lún gói lại như cũ rồi cầm trên tay trái và tiếp tục đi về lán trại. Hồi 06 giờ 50 phút cùng ngày, khi Lò Văn L đang đi trên đường thuộc bản Che Phai 1, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái Lò Văn L đang cầm 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 11 giờ, ngày 10/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine có khối lượng 0,21 gam, gửi giám định toàn bộ.

Tại Bản kết luận giám định số: 538/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Lò Văn L là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,14 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKSTG ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong

2

bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,14 gam Heroine.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người đọc bản bào chữa bào chữa cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 06 giờ 50 phút, ngày 10/3/2024, tại bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Lò Văn L đã thực hiện hành vi đã cất giấu trái phép 0,21 gam heroine nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo phạm tội trong trường hợp có 03 tiền án đều chưa được xóa án tích: Bản án số 13/HS-ST ngày 01/02/1999 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn L 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 23/01/2004 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 19/2005/HS-ST ngày 02/3/2005 của Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt Lò Văn L 30 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, ngày 07/6/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 25/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Lò Văn L 20 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 27/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Trong đó Bản án số 25/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên đã áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung: “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL37-38); kết luận giám định (BL41); các biên bản ghi lời khai,

3

biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,21 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng, phạm tội trong trường hợp bị áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Văn L sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã từng có 03 tiền án chưa được xóa án tích như đã phân tích ở trên lại tiếp tục phạm tội mới. Tình tiết tái phạm nguy hiểm đã được dùng là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận. HĐXX sẽ áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản Che Phai 1, xã C, huyện T, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm

4

nông nghiệp và là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,14 gam Heroine

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. Về tội danh: Bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L: 05 (Năm) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 10/3/2024
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,14 gam Heroine.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo hồi 10 giờ, ngày 29 tháng 5 năm 2024).

  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy

5

định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 18/6/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Công an huyện Tuần Giáo (3);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - THA DS TG, THA HS;
  • - Bị cáo; NBC;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình Hà

6

HỘI THẨM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Huyền Quàng Văn Tại Lê Đình Hà

7

HỘI THẨM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý A Thu Tòng Văn Nghiến Lê Đình Hà

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

HỘI THẨM THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lò Văn Hải Lò Văn Thương Lê Đình Hà

22

23

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

24

25

26

27

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 06 giờ 50 phút, ngày 10/3/2024, tại bản Che Phai 1, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, Lò Văn Lđã thực hiện hành vi đã cất giấu trái phép 0,21 gam heroine nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo phạm tội trong trường hợp có 03 tiền án đều chưa được xóa án tích: Bản án số 13/HS-ST ngày 01/02/1999 của Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn Lún 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 23/01/2004 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 19/2005/HS-ST ngày 02/3/2005 của Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt Lò Văn Lún 30 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, ngày 07/6/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 25/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Lò Văn Lún 20 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 27/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Trong đó Bản án số 25/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên đã áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung: “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger