Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

*******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liên

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký TAND huyện Chương Mỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo :

1. Vũ Đình N, sinh năm 1981; giới tính: Nam; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Vũ Đình Y và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); có 02 con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 90/2009/HHSST ngày 16/9/2009 của Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 5.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, đã nộp án phí ngày 14/6/2010, nộp tiền 2.000.000 đồng ngày 18/5/2011, được đình chỉ thi hành án phạt tiền theo quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền số 19 ngày 28/7/2017 của TAND huyện Chương Mỹ (Đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 25/7/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương.

2. Lê Quý T, sinh năm 1982; giới tính: Nam; Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; có bố là Lê Quý T1 (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị G; có vợ là Nguyễn Thị H2; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa ; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 21/7/2023. Bị cáo tại ngoại.

- 2 -

3. Hoàng Văn T2, sinh năm 1985; giới tính: Nam; Đăng ký HKTT và chỗ ở: TDP Đ, TT X, C, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; có bố là Hoàng Văn T3 và mẹ Bùi Thị G1; có vợ là Nguyễn Thị H3; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/5/2006, Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây Quyết định đình chỉ bị cáo về tội: “ Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 điều 104 BLHS 1999, do bị hại rút đơn yêu cầu ; Bản án số 76/2010/HSST ngày 19/9/2010, của Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Đánh bạc”, đã nộp án phí ngày 16/5/2013; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 17/9/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

4. Lê Công C, sinh năm 1984; giới tính: Nam; Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; có bố là Lê Công Q mẹ là Vũ Thị K; có vợ là Đỗ Thị H4; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 21/7/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

5. Vũ Văn H5, sinh năm 1977; giới tính: nam; Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; có bố là Vũ Văn T4 (đã chết) mẹ là Nguyễn Thị Q1; có vợ là Đỗ Thị L; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 90/2009/HHSST ngày 16/9/2009 của Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt 5.000.000 đồng về tội: “ Đánh bạc”, đã nộp án phí ngày 14/6/2010, nộp tiền phạt 5.000.000 đồng ngày 21/6/2010; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2023 đến ngày 21/7/2023, hiện bị can đang tại ngoại.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 16/7/2023, Vũ Đình N đang ở nhà thì có Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5, Lê Quý T đến chơi. Tại đây, các đối tượng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền, các đối tượng quy ước đánh chắn quăng ù xuông 40.000 đồng, dịch 20.000 đồng và xin được chơi tại nhà N. N đồng ý cho mọi người đánh bạc tại nhà của mình đồng thời thỏa thuận đến khi đánh bạc xong, mỗi người sẽ nộp cho N 150.000 đồng tiền phế và được mọi người đồng ý. Sau đó, N lấy 02 bộ bài chắn, 02 đĩa men sứ, trải chiếu, chăn và chia bài cho mọi người đánh.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật và đưa tất cả các đối tượng về trụ sở để làm rõ nội dung sự việc

* Vật chứng thu giữ:

- 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 (một) vỏ chăn nỉ màu vàng; 02 (hai) đĩa men sứ; 01(một) chiếu nhựa; T5 trên chiếu bạc: 6.850.000 đồng; T5 trên người: Lê Công C là: 900.000 đồng; T5 trên người Hoàng Văn T2 là 2.200.000 đồng; T5 trên người Lê Quý T là 2.700.000 đồng; Tổng số tiền thu giữ là: 12.650.000 đồng.

Hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:

Vũ Đình N cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, thoả thuận thu phế 150.000 đồng, chuẩn bị 02 bộ bài chắn, 02 đĩa men sứ, trải chiếu, chăn đồng thời bản thân Vũ Đình N tham gia chia bài cho các bị can khác đánh bạc. Khi bị bắt N chưa thu được tiền phế; Lê Quý T có 3.700.000 đồng sử dụng để đánh bạc; Hoàng Văn T2 có 3.300.000 đồng sử dụng để đánh bạc; Lê Công C mang theo 3.050.000 đồng sử dụng để đánh bạc; Vũ Văn H5 có 2.600.000 đồng dùng để đánh bạc.

Tại cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 20/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5 và Lê Quý T đều về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ sau khi phân tích, giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5 và Lê Quý T phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Đình N, Vũ Văn H5 và Hoàng Văn T2.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Công C và Lê Quý T.

Đề nghị xử phạt:

Vũ Đình N từ 09-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Vũ Văn H5 từ 07-10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.

- 4 -

Hoàng Văn Thực từ 07-10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.

Lê Công C từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.

Lê Quý T từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng.

Về tang vật: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân; 01 vỏ chăn nỉ màu vàng; 02 đĩa men sứ; 01 chiếu nhựa đều không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.650.000 đồng;

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của mình như nội dung cáo trạng quy kết. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5 và Lê Quý T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã quy kết. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16/7/2023 bị cáo N đã dùng nhà ở của mình và chuẩn bị dụng cụ cho các bị cáo T2, C, H5 và T đánh bạc dưới hình thức đánh chắn, được thua bằng tiền, bị cáo N là người chia bài cho các bị cáo khác đánh bạc. Các bị cáo chơi đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc là 6.850.000 đồng, thu trên người Chính 900.000 đồng, T2 2.200.000 đồng, T 2.700.000 đồng số tiền trên các bị cáo đều sử dụng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào đánh bạc là 12.650.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Vũ Đình N đã dùng nhà ở của mình, chuẩn bị dụng cụ và chia bài cho các đối tượng đến đánh bạc, do vậy hành vi của bị cáo N phạm tội Đánh bạc với vai trò là đồng phạm; hành vi của các bị cáo T2, C, H5 và T đã trực tiếp tham gia đánh bạc nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- 5 -

[3]. Xét hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật; hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự và an toàn công cộng một khách thể được luật hình sự bảo vệ, ngoài ra còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương và an toàn xã hội, gây nhức nhối trong nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đánh giá vai trò của các bị cáo thì thấy: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo N là chủ nhà và chia bài cho các bị cáo khác đánh bạc do vậy cần phải xử lý cao hơn so với các bị cáo khác. Đối với các bị cáo T khi tham gia đánh bạc có 3.700.000 đồng, T2 có 3.300.000 đồng, C có 3.050.000 đồng và H5 có 2.600.000 đồng, các bị cáo trên trực tiếp đánh bạc, do vậy các bị cáo cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo.

[3]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Đối với các bị cáo N, H5 và T2 có nhân thân xấu, các bị cáo đã được xóa án tích. Căn cứ nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo N, H5 và T2 được coi là không có án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo N, H5 và T2 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có thể áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo; đối với các bị cáo T và Chính phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các bị cáo N, H5, T2 có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo hưởng mức án có điều kiện cũng đủ răn đe giáo dục và phòng ngừa chung đối với các bị cáo. Đối với bị cáo C và T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên có thể xử phạt bằng tiền đối với các bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục.

Ngoài hình phạt chính các bị cáo có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, xét thấy các bị cáo gia đình hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.

- 6 -

[4]. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân; 01 vỏ chăn nỉ; 02 đĩa men sứ; 01 chiếu nhựa đều không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.650.000 đồng;

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5 và Lê Quý T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2 và Vũ Văn H5.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Quý T và Lê Công C.

Xử phạt:

- Vũ Đình N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- H6 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm..

- Vũ Văn Hùng 1 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Lê Quý T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

- Lê Công C 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Giao các bị cáo Vũ Đình N và Vũ Văn H5 cho UBND xã T, huyện C, TP Hà Nội và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Văn T2 cho UBND thị trấn X, huyện C, TP Hà Nội và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Miễn các hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

- 7 -

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân; 01 vỏ chăn nỉ màu vàng; 02 đĩa men sứ; 01 chiếu nhựa đều không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.650.000 đồng; (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 31/10/2023 và Ủy nhiệm chi ngày 09/11/2023).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Vũ Đình N, Hoàng Văn T2, Lê Công C, Vũ Văn H5 và Lê Quý T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - TA TP Hà Nội
  • - VKS, CA - THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hs.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Tưởng Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 130/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger