Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/DS-ST

Ngày 16-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phi Hùng

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 167/2022/TLST – DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 284/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Thanh P, sinh năm 1952, có mặt
  2. Bà Lâm Thị Ả, sinh năm 1964, có mặt

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn:

Bà Nguyễn Thị T, vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: NT Hồ Sỹ T1 tổ A, ấp R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Quốc P1, sinh năm 1982, vắng mặt
  2. Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1986, vắng mặt
  3. Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1988, vắng mặt
  4. Chị Nguyễn Thị P2, sinh năm 1992, vắng mặt

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Lý Thiên Q, có yêu cầu xin vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Số G, đường P, khóm A, phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Thanh P, bà Lâm Thị A trình bày:

Vào ngày 22/4/2007, ông P, bà Ả có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang V phần đất có chiều ngang 05m, dài 40m, diện tích 200m², toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, với giá 42.000.000 đồng. Hai bên có lập giấy tay, có bà T, ông V và con trai là Nguyễn Quốc P1 ký tên vào giấy chuyển nhượng. Ông P, bà Ả đã thanh toán tiền cho bà T, ông V và bà T, ông V đã giao đất cho ông P, bà Ả sử dụng từ đó cho đến nay.

Tuy nhiên, từ khi chuyển nhượng đất đến thời điểm hiện tại, bà T, ông V không làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng phần đất cho vợ chồng ông P, bà Ả. Sau khi ông V chết, ông P, bà Ả nhiều lần liên hệ yêu cầu bà T chuyển tên quyền sử dụng đất nhưng bà T chỉ hứa hẹn mà không thực hiện.

Phần đất này trước đây ông P, bà Ả có cho ông Lý Thiên Q thuê nhưng hiện tại đã không còn cho thuê nữa.

Nay, ông P, bà Ả yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà Ả với bà T, ông V đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 248,4m², toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau; Yêu cầu bà T chuyển tên quyền sử dụng phần đất cho vợ chồng ông bà.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/11/2022, ông Lý Thiên Q trình bày:

Vào năm 2019, ông có thuê phần đất của ông P, bà Ả (phần đất đang tranh chấp tại vụ án), giá thuê mỗi năm 5.000.000 đồng, thuê để làm xưởng gỗ (thuê cùng các phần đất của 03 hộ khác), hàng năm đều thanh toán tiền đầy đủ. Hiện tại vẫn đang thuê, giá thuê năm 2022 là 6.000.000 đồng, thời hạn thuê đến ngày 30/3/2023 (gia hạn thuê hàng năm).

Khi ông đến thuê đất thì xác định đất của ông P, bà Ả. Do thuê đất làm ăn nhỏ nên ông không có lập hợp đồng thuê có công chứng chứng thực, chỉ lập hợp đồng viết tay. Tại vụ án này ông không có yêu cầu gì. Trường hợp kết quả giải quyết tranh chấp ai thắng, được sử dụng đất thì ông tiếp tục thuê đất của người đó, nếu không cho thuê nữa thì ông trả đất khi hết hạn hợp đồng. Do bận công việc làm ăn nên ông xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay:

Ông P, bà Ả giữ nguyên trình bày và yêu cầu như đã nêu trên. Ông bà tự nguyện chịu chi phí đo đạc, định giá và sao lục hồ sơ.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, bà Ả. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có diện tích 248,4m², toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau giữa ông P, bà Ả với bà T, ông V. Về chi phí tố tụng: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện chịu chi phí đo đạc, định giá và sao lục hồ sơ của ông P, bà Ả. Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Lê Thanh P, bà Lâm Thị Ả khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau, giữa ông bà với bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Quang V. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông P, bà Ả thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Các đương sự được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bà T, anh P1, anh N, anh H, chị P2 vắng mặt không có lý do; ông Q có yêu cầu xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.

[3] Theo Bản vẽ trích đo hiện trạng của Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn T3 – đo đạc bản đồ Tấn C tại Cà Mau thì phần đất tranh chấp có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau:

Phần đất tranh chấp gồm hai phần bị chia cắt bởi đường bê tông. Phần 1: Mặt tiền giáp đường bê tông mốc M5-M8 dài 5,00m; Mặt hậu giáp đất ông Nguyễn Văn H1 mốc M6-M7 dài 5,00m; cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà La Thị S mốc M7-M8 dài 22,62m; cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất còn lại của bị đơn mốc M5-M6 dài 23,43m, diện tích 114,4m². Phần 2: Mặt tiền giáp đường bê tông mốc M2-M3 dài 5,00m; Mặt hậu giáp sông T dài 5,02m; cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất ông Lâm Hùng D mốc M1-M2 dài 27,09m; cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà La Thị S mốc M3-M4 dài 26,97m, diện tích 134m².

Tổng diện tích hai phần đất là 248,4m² toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông P, bà Ả:

Tại “Tờ giao kèo (chuyển nhượng)” ông P, bà Ả cung cấp cho Toà án, có thể hiện nội dung: Bà T và ông V đồng ý chuyển nhượng lại cho ông P, bà Ảnh phần đất có chiều ngang 05m, dài từ lộ cũ tới mé sông, giáp với đất ông Nguyễn Văn T2 (vợ ông T2 là bà La Thị S), chuyển nhượng vĩnh viễn, với giá là 42.000.000 đồng. Sau này có gì thay đổi thì bà T hoàn toàn chịu trách nhiệm. Giấy chuyển nhượng có ông P, bà Ả, bà T, ông V và anh P1 ký tên.

Ông P, bà Ả đã thanh toán đầy đủ tiền và ông V, bà T đã giao đất cho ông P, bà Ả sử dụng từ đó cho đến nay. Quá trình sử dụng, ông P, bà Ả có cho ông Q thuê phần đất từ năm 2019 đến năm 2023.

Hiện tại, ông V đã chết. Phía bà T và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông V là anh P1, anh N, anh H, chị P2 cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông P, bà Ả.

Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, thì người dân có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau. Mặc dù, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các đương sự chưa tuân thủ về mặc hình thức. Tuy nhiên, các bên đã thanh toán toàn bộ tiền và giao phần đất chuyển nhượng cho nhau. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà Ả về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà với bà T, ông V đối với phần đất tranh chấp tại vụ án.

Ông P, bà Ả có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất.

[5] Về thành quả lao động trên phần đất tranh chấp: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không có đầu tư tài sản gì trên đất nên không xem xét thành quả lao động của bị đơn.

[6] Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông P, bà Ả với ông Q: Ông P, bà Ả xác định hiện tại đã chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Q, ông Q cũng không có yêu cầu gì đối với hợp đồng thuê đất giữa các bên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Các vấn đề khác: Ghi nhận sự tự nguyện chịu chi phí tố tụng của nguyên đơn, bao gồm: Chi phí đo đạc là 4.449.000 đồng; chi phí định giá tài sản là 10.785.500 đồng; chi phí sao lục hồ sơ là 150.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà T là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn nộp án phí. Vì vậy, bà T phải chịu án phí theo quy định. Ông P, bà Ả không phải chịu án phí, bà Ả được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 689, 697, 699, 700, 701, 702 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 129, 500, 501, 502, 688 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 106, 127 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 166, 167, 203, 210 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh P, bà Lâm Thị Ả về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Thanh P, bà Lâm Thị Ả với bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Quang V, đối với phần đất có diện tích 248,4m² tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí, kích thước như sau: Phần 1: Mặt tiền giáp đường bê tông mốc M5-M8 dài 5,00m; Mặt hậu giáp đất ông Nguyễn Văn H1 mốc M6-M7 dài 5,00m; cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà La Thị S mốc M8-M7 dài 22,62m; cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất còn lại của bị đơn mốc M5-M6 dài 23,43m, diện tích 114,4m². Phần 2: Mặt tiền giáp đường bê tông mốc M2-M3 dài 5,00m; Mặt hậu giáp sông T mốc M1-M4 dài 5,02m; cạnh phải (nhìn từ mặt tiền) giáp đất ông Lâm Hùng D mốc M1-M2 dài 27,09m; cạnh trái (nhìn từ mặt tiền) giáp đất bà La Thị S mốc M3-M4 dài 26,97m, diện tích 134m².

(Kèm theo Bản vẽ trích đo hiện trạng của Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn T3 bản đồ Tấn C).

Ông P, bà Ả có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

2. Các vấn đề khác:

- Về chi phí tố tụng: Ông P, bà Ả tự chịu chi phí tố tụng bao gồm: Chi phí đo đạc số tiền 4.449.000 đồng; chi phí định giá tài sản số tiền 10.785.500 đồng; chi phí sao lục hồ sơ số tiền 150.000 đồng. Tổng cộng là 15.384.500 đồng (đã nộp xong).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 đồng. Ông P, bà Ả không phải chịu án phí. Ngày 18/10/2022, bà Ả có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003058, được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Thới Bình;

- Chi cục THADS huyện Thới Bình;

- TAND tỉnh Cà Mau;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 130/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh P - Nguyễn Thị T: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger