Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 130/2024/HS-ST

Ngày 05-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Ngô Thị Vân.
  2. Bà Nguyễn Thị Biên.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, năm sinh 2002.

Quê quán: xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi thường trú: Thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974 và bà Dương Thị Đ, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; Bị cáo có chồng là Nguyễn Quốc T, sinh năm 1999 và có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt).

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 và anh Vũ Văn H1, sinh năm 1985; Đều địa chỉ: Số nhà F, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị T1 và anh H1 đều vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990; Đều địa chỉ: Số nhà F, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17/4/2024, Nguyễn Thị H, sinh năm 2002, trú tại thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M1-267.56 đi đến thành phố B mục đích mua điện thoại di động để sử dụng.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến cửa hàng bán điện thoại di động Hiền Mobile của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 ở số nhà F, tổ dân phố P, phường D, thành phố B. H dựng xe ở bên ngoài rồi đi vào trong cửa hàng; thời điểm này chị T1 không có mặt trong cửa hàng. H quan sát thấy bên trong tủ kính có trưng bày nhiều điện thoại di động các loại nhưng đắt tiền nên không đủ tiền mua. Lúc này, H thấy trong cửa hàng không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại. H đi đến phía tủ kính ở gần cửa ra vào, dùng tay phải cho vào bên trong tủ kính lấy một chiếc Iphone 12 Promax màu vàng (loại 128GB, đã qua sử dụng, điện thoại không có sim, không có mật khẩu) sau đó chuyển sang cầm ở tay trái rồi đút vào túi quần phía sau bên trái. Sau khi trộm cắp chiếc điện thoại, H đi ra ngoài điều khiển xe mô tô về nhà. H gắn sim số 0395.491.075 của H vào chiếc điện thoại vừa trộm cắp được để sử dụng.

Khoảng 12 giờ ngày 20/4/2024, chị Nguyễn Thị T1 bán hàng cho khách thì phát hiện bị mất chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng đã nhập mua trước đó. Chị T1 gọi điện thoại cho chồng là Vũ Văn H1 hỏi thì anh H1 nói chưa bán chiếc điện thoại này. Chị T1 nghi ngờ bị trộm cắp nên kiểm tra camera trong cửa hàng thì phát hiện vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 17/4/2024 có một người phụ nữ mặc áo cộc cổ tròn màu xanh, quần vải dài màu đen, chân đi dép lê, đội mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen, đeo khẩu trang màu trắng đi vào cửa hàng trộm cắp chiếc điện thoại. Chị T1 đã trình báo Công an phường D đồng thời đăng lên Facebook thông tin cùng đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp chiếc điện thoại.

Buổi chiều cùng ngày, chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang xem bài viết kèm theo video trên Facebook thì thấy người phụ nữ trộm cắp điện thoại có đặc điểm giống với Nguyễn Thị H (là cháu dâu chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang) nên đã gửi cho chị V. Sau khi nhận được tin nhắn, kèm theo video do chị T2 gửi đến, chị V gọi H đến nhà hỏi và cho video do chị T2 gửi đến. Lúc này, H biết mọi người phát hiện ra việc H trộm cắp chiếc điện thoại nên xác định sẽ trả lại cho chị T1. Buổi chiều cùng ngày, H đi xe mô tô mang theo chiếc điện thoại di động đã trộm cắp đến cửa hàng của chị T1 để trả lại thì Công an phường D, thành phố B lập biên bản sự việc; tạm giữ chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, lắp sim số 0395.491.075. Công an phường D đã chuyển tài liệu liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động tại cửa hàng điện thoại của chị Nguyễn Thị T1 như nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐ ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

“01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB, màu vàng, cũ đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 17/4/2024 là 11.500.000 đồng”.

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Thị H thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả H đã thực hiện thuần thục các động tác trộm cắp chiếc điện thoại tại cửa hàng điện thoại của chị T1 như đã khai.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 file video ghi hình ảnh Nguyễn Thị H trộm cắp tại cửa hàng điện thoại Hiền M.

Kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video được lưu trữ trong 01 thẻ nhớ Micro SD gửi giám định.
  2. Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định”.

Cơ quan điều tra cho Nguyễn Thị H xem lại 02 file video đã thu giữ. H xác định có hình ảnh H trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax tại cửa hàng H2 ngày 17/4/2024.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nguyễn Thị T1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng; trả lại Nguyễn Thị H chiếc xe mô tô BKS 98M1-26756; sim điện thoại số 0395.491.xxx và căn cước công dân. Chị T1 không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ cho bị cáo.

* Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 13 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 07 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng án treo để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, Nguyễn Thị H đi xe máy đến cửa hàng bán điện thoại di động của chị Nguyễn Thị T1 ở số nhà F, tổ dân phố P, phường D, thành phố B mục đích để tìm mua điện thoại. Lợi dụng lúc chị T1 không có mặt trong cửa hàng, H đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, loại 128GB, đã qua sử dụng trị giá 11.500.000 đồng sau đó đem về nhà lắp sim vào và sử dụng. Sau khi bị phát hiện, H đem chiếc điện thoại đến trả lại cho chị T1 thì bị Công an phường D, thành phố B lập biên bản, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo .

[6] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09(chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Dương Đức, h.Lạng Giang, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 130/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger