|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/HS-ST
Ngày 12/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quốc Thiện |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Trần Thị Đông |
| Ông Nguyễn Văn Thông |
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quốc T, giới tính: nam, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 10/02/1983, tại: T, Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT: Khối phố C, phường P, TP ., tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quốc C (sinh năm 1965) và bà Lê Thị Kim O (sinh năm 1963), cùng trú tại Khối phố C, phường P, TP ., tỉnh Quảng Nam. Gia đình có 03 người con, bị cáo là con đầu, bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- - Ngày 05/6/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
- - Ngày 10/8/2013, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ xử phạt 2 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 16/12/2014;
- - Ngày 27/10/2010, bị Ủy ban nhân dân T1 quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng;
- - Ngày 25/3/2013, bị Công an T2 xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Ngày 28/02/1015, bị Công an T2 xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Ngày 24/6/2016, bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024 và chuyển tạm giam ngày 20/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T2. Có mặt.
- Bị hại:
- + Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm: 2000, địa chỉ: khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trần Thị Xuân H, sinh năm: 1992, địa chỉ: số I T, khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- + Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm: 1982, địa chỉ: khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm: 1965, địa chỉ: khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1986, địa chỉ: thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/6/2024, Nguyễn Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 92F3- 3257 đi trên đường H thuộc phường P, thành phố T đến quán cà phê gần UBND phường P để chở cha ruột của mình là ông Nguyễn Quốc C (sinh năm 1965) về nhà. Do đoạn đường gần UBND phường P đang thi công vỉa hè và gần đó có nhà Số C H đang có đám tang nên T để xe tại lề đường H, cách nhà có đám tang khoảng 30m, T đi bộ trên đường H, ngang qua đám tang đến quán cà phê gặp ông C nhưng ông C bận việc chưa về được, sau đó T đi bộ quay lại vị trí để xe mô tô của mình. Khi đi bộ ngang qua nhà Số C H, T nhìn thấy có nhiều người đang khiêng bàn trên xe ba gác vào bên trong đám tang. T phát hiện tại bàn tiếp lễ của đám tang ngay phía trước cổng có để 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 pro màu xám, dung lượng 128G của anh Nguyễn Minh Q (sinh năm 2000, trú khối phố M, phường A, thành phố T) nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. T đứng quan sát một lúc nhận thấy không có ai để ý, quản lý điện thoại nên T lén lút đi lại bàn lấy trộm chiếc điện thoại của anh Q, rồi nhanh chóng đi lại vị trí để xe mô tô điều khiển xe về nhà cất giấu điện thoại trộm được. Đến chiều ngày 13/6/2024, Huỳnh Thị Mỹ L (sinh năm 1982, trú Khối phố B, phường A, thành phố T) là người yêu của T đến nhà T chơi. Tại đây, T đưa điện thoại mới trộm được ra cho L xem và nói với L là mới nhặt được chiếc điện thoại ở gần chợ T3. L tưởng thật nên không hỏi gì thêm. Đến trưa ngày 14/6/2024, T rủ L mang điện thoại trên đi cầm cố lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 92F3- 3257 chở L mang theo điện thoại Iphone 13 pro màu xám đến tiệm cầm đồ H của chị Trần Thị Xuân H (sinh năm 1992) ở Số I T, phường A, thành phố T. Khi đến nơi T đứng ngoài đợi, còn L vào gặp chị H cầm điện thoại được số tiền 3.500.000 đồng. Khi cầm xong điện thoại, L ra ngoài nói với T là cầm điện thoại được 2.000.000 đồng. T chở L về nhà và T để cho L tiêu xài hết số tiền trên. Sau khi bị mất trộm điện thoại, anh Q đã đến Công an phường P trình báo sự việc. Lúc 14 giờ ngày 14/6/2024, T đã đến Công an phường P đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng tạm giữ:
- - Trần Thị Xuân H giao nộp: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 pro, màu xám, dung lượng 128G.
- - Tạm giữ của Nguyễn Quốc T: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, 01 (một) quần lửng màu xanh rêu, 01 (một) đôi dép da màu vàng.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Hond Wave màu đỏ, biển số 92F3- 3257, không có kính chiếu hậu.
- - 01 (một) đĩa CD-R bên trong có chưa đoạn video liên quan đến vụ trộm cắp ngày 13/6/2024.
Theo kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 pro, màu xám, dung lượng 128GB trị giá 10.500.000 đồng.
Cáo trạng số 127/CT-VKSTK-HS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan khác theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[1.2] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
[2.2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 thu giữ chứng minh qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 13/6/2024, tại nhà Số C H thuộc phường P, thành phố T, Nguyễn Quốc T có hành vi lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Minh Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 pro màu xám, dung lượng 128G trị giá 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm phạm luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương, do đó cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục đồng thời ngăn ngừa chung cho xã hội.
[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an phường P đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội những tình tiết này Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
[2.5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[2.6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Nguyễn Minh Q đã nhận lại được điện thoại và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
- - Trong quá trình điều tra, bà Huỳnh Thị Mỹ L đã bồi thường cho bà Trần Thị Xuân H được số tiền 500.000 đồng, bà H yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 3.000.000 đồng từ việc cầm cố chiếc điện thoại. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bà Huỳnh Thị Mỹ L trả lại cho bà Trần Thị Xuân H số tiền 3.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 13 pro, màu xám, dung lượng 128G. Đây là tài sản của anh Nguyễn Minh Q nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q là phù hợp.
Đối với 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 quần lửng màu xanh rêu, 01 đôi dép da màu vàng. Đây là những đồ vật T sử dụng khi đi trộm cắp tài sản và xét thấy những đồ vật này không còn giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 đĩa CD-R bên trong có chưa đoạn video liên quan đến vụ trộm cắp ngày 13/6/2024, cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Hond Wave màu đỏ, biển số 92F3- 3257. Qua xác minh xe này do Nguyễn Văn V (sinh năm 1986, trú thôn X, xã T, huyện N) đứng tên chủ sở hữu. Do xe sử dụng đã cũ nên V bán lại cho một người không rõ lai lịch cách đây khoảng 04 năm và đã giao giấy bán xe cho họ. Sau đó, ông Nguyễn Quốc C (cha ruột T) mua lại xe này của người khác nhưng không nhớ tên, địa chỉ người bán, do xe đã cũ nên ông C không làm thủ tục sang tên đổi chủ và đã làm thất lạc giấy đăng ký xe. Ngày 13/6/2024, ông T để xe ở nhà có sẵn chìa khóa trên xe nên T tự lấy sử dụng, sau đó ông C nhờ T đến quán cà phê chở về nhà, việc T có hành vi trộm cắp tài sản ông C không biết nên không có cơ sở để xử lý. Do chưa làm rõ được nguồn gốc chiếc xe biển số 92F3- 3257 nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.
[5] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với Huỳnh Thị Mỹ L là người được T đưa điện thoại đi cầm cố cho chị Trần Thị Xuân H. Tuy nhiên, do trước đó T nói với L là mới nhặt được chiếc điện thoại trên ở gần chợ T3, L tin tưởng là thật nên khi T rủ mang điện thoại đi cầm cố L đã đồng ý, L không biết điện thoại trên là do T trộm cắp của người khác mà nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Trần Thị Xuân H đã nhận cầm cố chiếc điện thoại Iphone 13 pro, màu xám, nhưng khi nhận cầm chị H không biết điện thoại trên là do T trộm cắp được mà có có nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với việc T có hành vi sử dung ma túy đá vào ngày 11/6/2024. Qua làm việc, T khai vào ngày 11/6/2024, Thịnh tình cờ gặp một nam thanh niên xa lạ, không rõ lai lịch tại bãi đất trống ở khu vực phường T đang sử dụng ma túy đá một mình nên T lại xin sử dụng thì được người này cho sử dụng. Do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Quốc T đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quan điều tra đã có công văn chuyển hồ sơ và các tài liệu có liên quan đến Công an T2 đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[6] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024.
Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ L trả lại cho bà Trần Thị Xuân H số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị Xuân H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Huỳnh Thị Mỹ L không trả số tiền nêu trên thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 quần lửng màu xanh rêu, 01 đôi dép da màu vàng.
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án : Đối với 01 đĩa CD-R bên trong có chưa đoạn video liên quan đến vụ trộm cắp ngày 13/6/2024.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 26/8/2024).
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/9/2024). Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Quốc T - Trộm cắp tài sản
