TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày: 12 – 6 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Bà Phan Hồng Châu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Hữu T, sinh năm: 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: C tổ I, ấp C, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Rửa xe; Con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Kim H (đã chết).
Tiền án: Bản án số 1862/HSST ngày 09/10/2003 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 16/5/2009 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí.
Tiền sự: Quyết định số 20/QĐ-XPHC ngày 10/3/2023 của Công an phường L, thành phố T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 cho đến nay và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Hoàng Cẩm V, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Số G, đường L, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Lê Danh K, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Số H khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Ông Trần Văn P, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, Lê Hữu T thuê xe ôm chở đến khu vực chợ A, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói nylon hàn kín 02 đầu chứa ma tuý (loại đá) với giá 300.000 đồng rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, T giấu gói ma tuý cùng với bộ D dùng để sử dụng ma túy tự chế trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số: 61D2-018.19 qua nhà bạn là Nguyễn Hoàng Cẩm V. T rủ V đi nhà nghỉ sử dụng ma tuý thì V đồng ý. T chở V đến thuê phòng số 9 của nhà nghỉ I tại khu phố Đ, phường L, thành phố T. Sau khi vào phòng, T lấy bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý đá và gói nylon chứa ma tuý ra, T đổ một phần ma tuý vào bộ dụng cụ, T dùng hộp quẹt đốt ma tuý lên và cùng V sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý xong, T dùng hộp quẹt đốt lửa hàn kín gói nylon chứa phần ma tuý còn lại và đưa gói ma tuý đó cùng bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cho V cất giấu vào trong túi đeo màu đen của V. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, T trả phòng và điều khiển xe mô tô chở V về. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, Khi T đang điều khiển xe chở V về đến đoạn đường L, khu phố Đ, phường L thì bị Tổ tuần tra Công an phường L tiến hành dừng xe kiểm tra, T và V khai nhận có sử dụng ma tuý và có cất giấu ma tuý, V lấy từ trong túi đang đeo trên người ra 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng và bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý giao nộp cho Tổ tuần tra.
Cáo trạng số 132/CT-VKS-TA ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma tuý; 01 bì thư niêm phong ghi số 716/PC09 của Phòng K2 Công an tỉnh B.
- Bị cáo có đề nghị xét xử vắng mặt, không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng đã truy tố, ăn năn hối cải về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Lời khai nhận của bị cáo trong hồ sơ phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, sau khi mua ma túy, T cất giấu chung bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đến rủ bà Nguyễn Hoàng Cẩm V sử dụng ma túy, T chở bà V đến thuê phòng số 9 của nhà nghỉ I thuộc khu phố Đ, phường L, thành phố T, T lấy ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý rồi cùng bà V sử dụng. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, T đưa số ma túy còn lại chưa sử dụng hết và bộ D sử dụng ma tuý cho bà V cất giữ rồi T điều khiển xe mô tô chở bà V quay về nhà, khi đến đoạn đường L, khu phố Đ, phường L, thành phố T thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo chuẩn bị ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, rủ rê người khác, thuê địa điểm rồi tổ chức sử dụng, đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của mình cũng như người khác. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo từng bị Tòa án xử phạt về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bản chất nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[9] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
[10] Đối với hành vi của bị cáo và bà V tàng trữ 0,0216 gam Methamphetamine, cũng như hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bà V, Công an thành phố T đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
[11] Ông Phan Lý M quản lý nhà nghỉ 98, không biết bị cáo và bà V thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.
[12] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ:
- 01 bì thư niêm phong ghi số 716/PC09 của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ tự chế sử dụng ma tuý (gồm: 01 ống thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa mềm dạng gấp màu vàng dài 10cm; 01 ống hút nhựa mềm dạng gấp màu trắng dài 10cm và 01 nắp chai nhựa màu đỏ có 02 lỗ tròn trên nắp) cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô biển số 61D2-018.19 do ông Lê Thanh K1 đứng tên đăng ký xe, ông K1 đã bán cho ông Trần Văn P nhưng chưa làm thủ tục sang tên, ông P cho T mượn, không biết T sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại hiệu OPPO A57 kèm sim số 0329163784 và sim số 0784424939 là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại hiệu điện hiệu VIVO 1906 là tài sản của bà V, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Các Điều 106, 136 và 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo: Lê Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Lê Hữu T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư đã niêm phong ghi số 716/PC09 của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ tự chế sử dụng ma tuý gồm: 01 ống thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa mềm dạng gấp màu vàng dài 10cm; 01 ống hút nhựa mềm dạng gấp màu trắng dài 10cm và 01 nắp chai bằng nhựa màu đỏ có 02 lỗ tròn.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Tội phạm Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo: Lê Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
