TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/DS-ST
Ngày: 10/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Phụng;
- Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 365/2024/QĐHPT ngày 15 tháng 7 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 404/2024/QĐHPT ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1958;; địa chỉ: ấp M, xã X, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1986; địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Ông Phan Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày, do chỗ quen biết với vợ chồng bà N1, ông T có tham gia hụi do bà N1 làm chủ, số tiền bà N1 hưởng hoa hồng từ các hụi viên khác hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. Bà tham gia 12 dây hụi do bà N1 làm chủ như sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 1.000.000đ/tháng khui ngày 06/02/ 2021 (al) hụi có 26 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 22 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 21 lần: 21 x 3 = 63 lần x 2.000.000 đồng = 126.0000.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/08/2020 (al) hụi có 27 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 26 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là = 25 lần: 25 x 3 = 75 lần x 2.000.000 đồng = 150.0000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ ba: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/8/2022 (al) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 4 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 03 lần: 3 x 2 = 6 lần x 2.000.000 đồng = 12.0000.000 đồng (mười hai triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ tư: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 20/4/2020 (al) (tháng 4 sau do trong năm có tháng nhuần) hụi có 29 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 20 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 19 lần: 19 x 3 = 57 lần x 2.000.000 đồng = 114.0000.000 đồng (một trăm mười bốn triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ năm: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 29/9/2021 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1). Hụi khui đến lần thứ 14 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống được 13 lần là 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ sáu: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 04/5//2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này tôi tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 05 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 04 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 04 lần: 4 x 2 = 8 x 2.000.000 đồng = 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ bảy: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 29/02/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 10 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 09 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 09 lần: 9 x 2 = 18 x 2.000.000 đồng = 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ tám: Hụi 2000.000đ/tháng khui ngày 25/7/2021 (al) hụi có 26 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 1 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1). Hụi khui đến lần thứ 19 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 18 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ chín: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 06/5/2021 (al) hụi có 29 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 18 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 17 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 17 lần: 17 x 2 = 34 lần x 2.000.000 đồng = 68.000.000 đồng (sáu mươi tám đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ mười: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 20/6/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 05 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 04 lần, số tiền hụi bà được hưởng 4 lần: 4 x 2 = 8 x 2000.000 đồng = 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ 11: Hụi 5000.000đ/tháng khui ngày 01/02/2021 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 23 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 22 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 22 lần: 22 x 2 = 44 lần x 5.000.000 đồng = 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ 12: Hụi 5000.000đ/tháng khui ngày 08/08/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 04 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 03 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 03 x 2 = 6 lần x 5.000.000 đồng = 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Trong 12 dây hụi bà chầu tổng cộng số tiền hụi sống mà bà được hưởng là 850.000.000 đồng. Trong quá trình tham gia chơi hụi, hụi viên nào hốt được thì chủ hụi có nghĩa vụ gom tiền từ các hụi viên khác giao cho hụi viên đã hốt thì chủ hụi hưởng tiền huê hồng. Không có hụi viên nào không chầu hụi chết cho bà N1. Khi đi gom hụi thì có những lần chồng bà N1 là ông T đi gom cùng bà N1.
Hiện nay bà N1 và ông T vẫn còn chung sống nhưng đi làm xa, thỉnh thoảng có về thăm nhà. Khi bà biết bà N1 ngưng khui hụi thì bà có lại nhà đòi thì bà N1 và ông T hứa trả cho bà nhưng sau đó không trả và đi làm ăn cho đến nay. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông T, bà N1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền trong 12 dây hụi là 850.000.000 đồng, tính lãi suất 10%/năm từ ngày 08/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà N rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi suất và không yêu cầu buộc ông T cùng bà N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 850.000.000 đồng.
Nay, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim N1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).
Bà Nguyễn Thị Kim N1, ông Phan Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Lê Thị N đã cung cấp các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N1, ông Phan Văn T vắng mặt không có ý kiến.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Do quen biết nên bà N có tham gia hụi do ông T, bà N1 làm chủ cụ thể như sau:
Dây hại thứ nhất: Hụi 1.000.000đ/tháng khui ngày 06/02/2021 (al) hụi có 26 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 22 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 21 lần = 21 x 3 = 63 lần x 2.000.000 đồng = 126.0000.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/08/2020 (al) hụi có 27 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 26 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là = 25 x 3 = 75 lần x 2.000.000 đồng = 150.0000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ ba: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/8/2022 (al) hụi có 22 hại viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 4 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 03 lần : 02 x 3 = 6 lần x 2.000.000 đồng = 12.0000.000 đồng (mười hai triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hại thứ tư: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 20/4/2020 (al) (tháng 4 sau do trong năm có tháng nhuần) hụi có 29 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 03 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2, 3). Hụi khui đến lần thứ 20 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống 57 lần x 2.000.000 đồng là 19 lần: 19 x 3 = trăm mười bốn triệu). Hụi hiện nay đã mãn. = 114.0000.000 đồng (một
Dây hụi thứ năm: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 29/9/2021 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1). Hụi khui đến lần thứ 14 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống được 13 lần, số tiền bà được hưởng là 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ sáu: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 04/5//2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 05 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 04 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 04 lần: 4 x 2 = 8 x 2.000.000 đồng = 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ bảy: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 29/02/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 10 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 09 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 09 x 2.000.000 đồng = 18 x 2.000.000 = 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ tám: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 25/7/2021 (al) hụi có 26 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 1 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1). Hụi khui đến lần thứ 19 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 18 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 36.000.000 đồng (ba triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ chín: Hại 2.000.000đ/tháng khui ngày 06/5/2021 (al) hại có 29 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 18 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 17 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 17 x 2 = 34 x 2.000.000 đồng = 68.000.000 đồng (sáu mươi tám đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ 10: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 20/6/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 05 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 04 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng: 04 x 2 = 08 x 2.000.000 đồng = 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ 11: Hụi 5000.000đ/tháng khui ngày 01/02/2021 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 23 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 22 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 22 x 2 = 44 lần x 5.000.000 đồng = 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ 12: Hụi 5000.000đ/tháng khui ngày 08/08/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị 9 Khước nằm số thứ tự số 1, 2). Hụi khui đến lần thứ 04 thì bà N1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này tôi chầu được số tiền hụi sống là 03 lần do đó số tiền hụi bà được hưởng là 03 x 2 = 6 lần x 5.000.000 đồng = 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Ông T, bà N1 tự ý ngưng hụi, bà N nhiều lần đến nhà ông T, bà N1 đòi tiền hụi nhưng T, bà N1 không trả. Nay bà N khởi kiệnyêu cầu ông T, bà N1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 12 dây hụi là 850.000.000 đồng, tính lãi suất 10%/năm từ ngày 08/3/2024 đến ngày xét xử. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà N rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi suất và yêu cầu buộc ông T cùng bà N1 liên đới trả tiền nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phía bà N1, ông T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, căn cứ bà N khởi kiện là các sổ hụi ngày 06/02/2021, 18/08/2020, 18/8/2022, 20/4/2020, 29/9/2021, 04/5//2022, 29/02/2022, 25/7/2021, 06/5/2021, 20/6/2022, 01/02/2021, 08/08/2022 (âm lịch), thể hiện bà N có tham gia 12 dây hụi do bà N1 làm chủ. Từ đó có cơ sở xác định được bà N có tham gia 12 dây hụi do bà N1 làm chủ, trong quá trình chơi hụi thì bà N1 tự ý ngưng hụi và còn nợ tổng số tiền 850.000.000 đồng. Do đó, bà N khởi kiện là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân sự.
Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471 Bộ luật Dân sự:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim N1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị N số tiền 850.000.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N đối với ông Phan Văn T và yêu cầu tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Niêm H kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim N1, ông Phan Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 850.000.000 đồng. Bà N1, ông T có nơi cư trú tại ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N1, ông Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt ông T, bà N1. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà N1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Qua lời khai và lời trình bày của bà Lê Thị N tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình bà giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà N với bà N1 có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do bà N1 tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng bà N1 không trả số tiền hụi khi bà N có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà N cung cấp có các danh sách hụi thể hiện tên bà trong từng dây hụi được bà N1 ghi nằm các số thứ tự theo từng dây hụi.
Lời khai của những người làm chứng tham gia chung với bà N thì cũng xác định bà N có tham gia chơi hụi trong các dây hụi mà bà N1 làm chủ và hiện nay bà N1 còn thiếu lại bà N số tiền hụi là 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).
Như vậy, lời khai của bà N phù hợp với danh sách hụi và lời khai của những người tham gia chơi hụi cùng bà N. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
Bà N yêu cầu bà N1, ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).
Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, ông T có cùng bà N1 xác lập hợp đồng về hụi với bà N hay không, nhưng hiện nay bà N1, ông T không có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân ông bà không hợp pháp, vì vậy bà N yêu cầu bà N1, ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) là không có cơ sở.
Tại phiên Tòa bà N cũng xin rút lại yêu cầu liên đới đối với ông T, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cần Đình chỉ đối với yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật được quy định tại Điều 217, 218, 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xem xét yêu cầu nghĩa vụ trả nợ của bà N1 nhận thấy, giữa bà N với bà N1 cùng xác lập hợp đồng góp hụi với nhau, nhưng bà N1 tự ý không hụi tiếp tục và cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà N khi bà N có yêu cầu.
Từ những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà N tại phiên Tòa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N là phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà N xin rút lại không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên đình chỉ đối với yêu cầu này.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Kim N1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều:
- Điều 282, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 217, 218, 227, 228, 235, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim N1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị N số tiền hụi 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N yêu cầu ông Phan Văn T có nghĩa vụ liên đới cùng bà Nguyễn Thị Kim N1 trả cho bà Lê Thị N số tiền hụi 850.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của bà Lê Thị N.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim N1 phải chịu 37.500.000 đồng (ba mươi bảy triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Lê Thị N có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí do bà là người cao tuổi nên bà được miễn nộp tạm ứng án phí. Do đó bà Lê Thị N không được nhận lại tiền tạm ứng án phí.
- Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |
Bản án số 130/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 130/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
