TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/HS-ST
Ngày: 06/9/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Trương Thị Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo họ và tên:
Hồ Công T (tên gọi khác: /); giới tính: N; sinh năm 1978 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Hồ Văn K (đã chết) và Nguyễn Thị T1 (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo ra đầu thú ngày 19/8/2023 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1967 – chết ngày 31/10/2019.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Ông Vũ Quốc T2, sinh năm 1960;
- - Ông Vũ Anh T3, sinh năm 1986;
- - Ông Vũ Hà T4, sinh năm 1989.
Đại diện theo ủy quyền của ông T3, ông T4:
Ông Vũ Quốc T2, sinh năm 1960
Cùng địa chỉ: Số F H, khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Công ty TNHH T5; địa chỉ: Số A đường E, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh M, sinh năm 1978; địa chỉ: Số E T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1990; địa chỉ: Số E N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số E H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 31/10/2019, bị cáo Hồ Công T điều khiển xe ô tô biển số 51D-094.76, có giấy phép lái xe lưu thông trên đường H hướng từ đường N về cầu P để giao hàng. Trên xe còn có phụ xe ông Nguyễn Hoàng V đi cùng. Khi T điều khiển xe đến trước nhà số E H, khu phố B, phường T, Quận G do không chú ý quan sát nên va chạm với bà Vũ Thị N1 đang đi bộ từ trái sang phải đường theo chiều hướng lưu thông của xe ô tô. Hậu quả bà N1 chết tại bệnh viện C lúc 18 giờ 40 phút ngày 31/10/2019.
1. Bản kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng K1- Công an Thành phố H số 1790-19/KLGĐ-PY ngày 20/11/2019 kết luận:
- - Vùng đầu: Bầm tụ máu quanh hố mắt trái. Bầm tụ máu gò má trái, kích thước 4cm x 4cm. Lỗ tai 2 bên chảy nhiều máu. Bên trong: Tụ máu dưới da rải rác toàn bộ vùng đầu (nặng hơn ở trán – đỉnh phải và thái dương chẩm trái). Tụ máu trong cơ thái dương 2 bên. Vỡ xương chẩm trái lan theo khớp liên đỉnh, tách khớp trán đỉnh và trán – thái dương phải, bên trái lan qua hố thái dương trái. Màng não cứng căng không dập rách, tụ máu dưới màng cứng thái dương – chẩm phải và trán – đỉnh trái. Xuất huyết dưới nhện rải rác hai bán cầu đại não. Dập xuất huyết nhu mô não thái dương phải.
- - Vùng ngực – bụng: Không tổn thương.
- - Kết quả phân tích mẫu máu bằng phương pháp sắc ký khí (GC) không tìm thấy E (cồn).
- - Kết quả phân tích mẫu máu bằng phương pháp thử bằng que thử QUIK – CHECK và sắc ký khí ghép khổi phổ (GC – MS) không tìm thấy ma túy.
Kết luận: Nguyên nhân bà Vũ Thị N1 chết do chấn thương sọ não; trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.
2. Bản kết luận giám định số 39/C09B ngày 21/11/2019 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Dấu vết thụng lún, mất bụi, in dạng vân vải mặt nạ phía trước đầu xe ô tô biển số 51D-094.76, có chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ trước về sau phù hợp va chạm với nạn nhân Vũ Thị N1. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 51D-094.76 và nạn nhân Vũ Thị N1.
Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết giữa hai phương tiện và hồ sơ vụ án tai nạn giao thông nêu trên xác định:
Khi xảy ra tai nạn, xe ô tô biển số 51D-094.76 đang lưu thông trên đường H hướng từ đường N đi hướng cầu P. Không đủ cơ sở xác định chiều hướng lưu thông của người đi bộ Vũ Thị N1.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 51D-094.76 với nạn nhân Vũ Thị N1 chiếu xuống mặt đường nằm trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông của xe ô tô biển số 51D-094.76.
3. Bản kết luận giám định số 204/C09B ngày 05/12/2019 của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô biển số 51D-094.76 khi tham gia tai nạn giao thông.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Hồ Công T khai nhận hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau vụ tai nạn giao thông phía Công ty và bị cáo Hồ Công T chưa bồi thường cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại ông Vũ Quốc T2 yêu cầu bồi thường với số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại Đơn đề nghị rút yêu cầu bồi thường thiệt hại ngày 05/9/2024, ông Vũ Quốc T2 rút toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSQ7 ngày 28/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Hồ Công T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Công T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
- - Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- - Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng K1- Công an Thành phố H số 1790-19/KLGĐ-PY ngày 20/11/2019, bản kết luận giám định số 39/C09B ngày 21/11/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và bản kết luận giám định số 204/C09B ngày 05/12/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Hồ Công T điều khiển xe ô tô biển số 51D-094.76, có giấy phép lái xe theo quy định, lưu thông đến trước nhà số E H, khu phố B, phường T, Quận G do không chú ý quan sát trên đường va đụng bà Vũ Thị N1 đang đi bộ từ trái sang phải đường theo hướng lưu thông của xe ô tô. Hậu quả bà Vũ Thị N1 chết.
Hành vi của bị cáo Hồ Công T điều khiển xe mô tô không đảm bảo an toàn vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội. Đối với hành vi của bị hại của bà N1 cũng có một phần lỗi đi bộ qua đường không đúng quy định, vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tai nạn giao thông hiện đang là nỗi lo lắng, quan tâm của toàn xã hội, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để giảm và hạn chế đến mức thấp nhất loại tội phạm này nhưng bị cáo lại có hành vi xem thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Khi xảy ra tai nạn, bị cáo không đưa bị hại đi cấp cứu, trong thời gian bị hại nằm điều trị không đến thăm nom, khi bị hại mất bị cáo cũng không đến viếng đám tang. Quá trình điều tra, Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo nhưng sau đó bị cáo bỏ trốn một thời gian dài, gây khó khăn cho cho việc giải quyết vụ án. Để lập lại trật tự kỷ cương xã hội xét cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, lỗi dẫn đến tai nạn giao thông có một phần lỗi của bị hại, bị cáo ra tự thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, lỗi dẫn đến tai nạn giao thông có một phần lỗi của bị hại; giấy phép lái xe của bị cáo có thời hạn đến 27/02/2027 nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe ô tô biển số 51D – 094.76; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số: 51D – 094.76; 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô biển số: 51D – 094.76 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH T5, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 Giấy phép lái xe hạng B2; tên Hồ Công T; số [...]; có giá trị đến ngày 27/02/2027, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án
[6] Về phần dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại rút lại yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với lời khai của ông Nguyễn Hoàng V về việc bị cáo Hồ Công T đã có sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại công văn số 716/CV-CSĐT-ĐTTH ngày 22/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q “...Khi xảy ra vụ việc thì lực lượng giải quyết ban đầu chưa đo nồng độ cồn, chưa thu mẫu máu để tiến hành giám định nồng độ cồn. Ngoài bản tự khai của ông Nguyễn Hoàng V thì không có tài liệu nào khác để chứng minh nồng độ cồn của bị can Hồ Công T khi lái xe”. Đây là thiếu sót về thủ tục tố tụng nghiêm trọng, cần rút kinh nghiệm.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Hồ Công T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2023.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe hạng B2; tên Hồ Công T; số [...]; có giá trị đến ngày 27/02/2027.
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc P |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
