Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST

Ngày 02 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương và bà Trương Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Hoàng K, sinh ngày 18/8/1997, nơi sinh: C - An Giang; nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T, sinh năm 1965 và bà Hồ Ngọc N, sinh năm 1973; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • - Ngày 14/12/2016, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc kết án 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 20/01/2017 chấp hành xong.
  • - Ngày 18/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 17 tháng, đến ngày 23/4/2021 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ 05, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Hiếu T1 (B), sinh năm 2000, nơi cư trú: Tổ I, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Ông Phan Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1996 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 30/10/2022, Phan Hoàng K, Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Hồng H cùng uống rượu tại quán trên vỉa hè, đường L thuộc tổ H, khóm V, phường C, thành phố C. Trong lúc uống rượu, K và C có lời qua tiếng lại, xảy ra cự cãi. Kha nghỉ nhậu đi bộ về nhà; C đi theo, liên tục gọi tên K, mục đích khuyên K về ngủ. Bực tức nên K vào sân nhà Lê Hiếu T1 lấy 02 cây dao cầm hai tay, quay ra xông đến C, tay phải cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống, C đưa tay trái lên đỡ trúng khuỷu tay; tiếp tục dùng chân đạp C 01 cái trúng ngực làm C té xuống đường. K ném 02 cây dao vào chậu kiểng trước nhà T1 và bỏ đi. C được đưa đến Bệnh viện, trình báo Cơ quan Công an, Công an tiến hành thu giữ vật chứng. Sau đó, K đến thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương làm thuê, biết Cơ quan Công an đang truy tìm, K về đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 02 cây dao bằng kim loại màu đen, trong đó, 01 cây lưỡi dài 23cm, rộng 5,2cm, sắc bén một cạnh, mũi bằng, cán dài 09cm, đường kính 03cm; 01 cây lưỡi dài 19cm, rộng 06cm, sắc bén một cạnh, sống dao có nhiều đường chữ Z, mũi bằng, cán dài 10cm, đường kính 02cm.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 710/22/TgT ngày 13/02/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh A xác định: Nguyễn Hoàng C tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên là 16% (do vật sắc gây nên).

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C khởi tố, tạm giam Phan Hoàng K để điều tra, xử lý.

Cáo trạng số 121/CT-VKSCĐ-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Phan Hoàng K về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; không có ý kiến tranh luận; không có ý kiến đối với Kết luận giám định pháp y về thương tích của C 16%. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã biết lỗi của mình nên xin lỗi người bị hại và bị cáo xin xem xét giảm nhẹ.

Bị hại C yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe do hành vi cố ý gây thương tích với số tiền 12.000.000 đồng, đã bồi thường 5.000.000 đồng.

Nay yêu cầu tiếp tục bồi thường thêm số tiền 7.000.000 đồng gồm: (1). Chi phí điều trị bệnh tại bệnh viện 08 ngày số tiền 5.000.000 đồng; (2). Chi phí bị mất thu nhập do nằm viện và nghỉ ngơi 14 ngày số tiền 3.500.000; (3). Chi phí tổn thất tinh thần, sức khỏe số tiền 3.500.000 đồng. Bị hại xin bãi nại và xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thống nhất và tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Phan Hoàng K về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; mặt khác bị cáo đã đầu thú và học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; bị cáo đã được bị hại xin bãi nại tại phiên tòa.

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hoàng K từ: 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 02 cây dao bằng kim loại màu đen.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng,

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thành phố C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

[2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét, những người này vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra, nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về nội dung:

[3] Hành vi phạm tội:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng; phù hợp với vật chứng được thu giữ; Kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ đó, có căn cứ xác định, vì duyên cớ nhỏ nhặt mà bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém bị hại thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt. Hành vi của bị cáo không những đã coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo đã đầu thú và học lực thấp. Bị cáo đã được bị hại xin bãi nại. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng cho bị cáo được hưởng

hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 cây dao bằng kim loại màu đen là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm. Bị cáo tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét, thỏa thuận giữa các bên dựa trên cơ sở tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng K phạm tội "Cố ý gây thương tích";

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng K 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 14/7/2023 (ngày mười bốn, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Căn cứ Điều 46 và Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Phan Hoàng K có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng C số tiền 7.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 02 cây dao bằng kim loại màu đen, trong đó, 01 cây lưỡi dài 23cm, rộng 5,2cm, sắc bén một cạnh, mũi bằng, cán dài 09cm, đường kính 03cm; 01 cây lưỡi dài 19cm, rộng 06cm, sắc bén một cạnh, sống dao có nhiều đường chữ Z, mũi bằng, cán dài 10cm, đường kính 02cm (đã qua sử dụng).

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là 15 ngày kể từ nhày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 130/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phan Hoàng K phạm tội "Cố ý gây thương tích"; Xử phạt bị cáo Phan Hoàng K 01 (một) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger