|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 130/2025/HSST Ngày: 11 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tống Kim Phượng
Ông Bùi Văn Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đỗ Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2025/TLST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HS ngày 28/10/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị L, ngày 16/12/1962 tại tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ngõ E, đường B, phố N, phường H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 05/10; Con ông Phạm Văn K (đã chết) và con bà Nguyễn Thị C (đã chết); Chồng: Đỗ Viết V; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/8/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Hà Thị Thanh T, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Số H, đường L, tổ dân phố Đ, xã H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt
Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Thị L: Ông Vũ Ngọc H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt
Người làm chứng: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1973
Nơi cư trú: Phố B, phường H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
Bà Lê Thị L1, sinh năm 1968
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
Chị Lê Thị H1, sinh năm 2000
Nơi cư trú: Xã G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Phố N, phường H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Thị L là nhân viên dọn phòng tại khách sạn T1 có địa chỉ ở phố B, phường H, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/6/2025 chị Hà Thị Thanh T cùng hai con là Chu Trà M, Hà Tường V1 và em gái là Hà Thị Lan A đến Ninh Bình đến thuê phòng 802 của khách sạn T1 để ở từ ngày 29/6/2025 đến 30/6/2025. Sáng ngày 30/6/2025 chị T và gia đình đi ăn sáng rồi cùng hai con đi tắm ở bể bơi của khách sạn. Do đeo nhẫn và vòng đeo tay vướng nên chị T đã đi lên phòng tháo 02 chiếc nhẫn gồm ( 01 chiếc nhẫn vàng 1,5 chỉ; 01 chiếc nhẫn bằng ngọc Phỉ Thúy) và 01 vòng đeo tay bằng ngọc màu đỏ thẫm xuôn lẫn các hạt bằng vàng 01 chỉ để ở trên đệm phía cuối chân giường phía trong rồi tiếp tục đi xuống bể bơi để tắm. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, chị T về phòng dọn đồ rồi xuống lễ tân trả phòng và đi về nhưng quên không lấy nhẫn và vòng.
Sau khi chị T trả phòng thì Phạm Thị L cùng chị Phạm Thị N và chị Lê Thị L1 là nhân viên dọn phòng của khách sạn T1 lên phòng 802 của khách sạn để dọn phòng, khi vào phòng thì chị N dọn tại giường thứ nhất ngay cửa vào, còn L đi vào phía trong để kéo rèm cửa rồi dọn giường phía bên trong, L nhấc chiếc khăn tắm màu trắng để trên chiếc chăn màu trắng trải ngang giường thì phát hiện có 01 chiếc nhẫn ngọc màu xanh, 01 chiếc nhẫn vàng phía trên đính đá màu trắng, 01 chiếc vòng tay có hạt màu vàng xuyên cùng hạt màu đỏ đậm. Do không có ai nhìn thấy nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Lý nhặt 02 chiếc nhẫn và 01 chiếc vòng tay bỏ vào túi áo phía trước bên trái đang mặc rồi tiếp tục dọn phòng. Dọn xong phòng 802 thì cả 3 đi xuống tầng 7 để dọn phòng.
Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường đi về thì chị T phát hiện mình đã để quên 02 chiếc nhẫn và 01 chiếc vòng đeo tay ở phòng 802 của khách sạn T1 nên quay lại gặp lễ tân mượn chìa khóa mở phòng để tìm nhưng không thấy vì phòng đã được dọn, chị T đã báo cho quản lý khách sạn. Khoảng hơn 12 giờ khi L đang dọn phòng dưới tầng 7 thì chị H1 là lễ tân của khách sạn gọi điện cho L nói khách ở phòng 802 báo là để quên vàng và bảo L, L1, N quay lại phòng 802. Lúc này, do lo sợ bị phát hiện nên L đã lấy 02 chiếc nhẫn và 01 chiếc vòng tay trong túi áo ra rồi gói vào 02 tờ giấy ăn màu trắng và mang ra cất giấu phía trên cục nóng điều hoà ở tầng 7 rồi đi lên phòng 802 cùng chị L1, chị N để gặp chị T cùng kiểm tra phòng. Tại đây, L và chị L1, chị N nói rằng trong quá trình dọn phòng không ai thấy 02 chiếc nhẫn và chiếc vòng đeo tay của chị T. Do không ai nhận nên chị T đã đến Công an phường N (nay là phường H), tỉnh Ninh Bình trình báo.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, đấu tranh và làm rõ Phạm Thị L là người đã có hành vi trộm cắp tài sản. Cùng ngày 30/9/2025 Phạm Thị L đã giao nộp 01 nhẫn hình tròn, đường kính 2,2 cm màu xanh ngọc, không xác định chất liệu; 01 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng, đường kính 2cm, trên mặt có đính đá màu trắng (trong đó có 20 viên nhỏ đính ở hai bên, ở giữa là 01 viên có đường kính 0,8 cm); 01 vòng có dây màu đỏ xuôn 30 hạt nhỏ màu đỏ thẫm không xác định chất liệu và 10 hạt bằng kim loại màu vàng có nhiều hình thù và kích thước khác nhau; 02 tờ giấy ăn màu trắng có hoa màu xanh, kích thước 20 x 20 cm.
Đồng thời Cơ quan điều tra tiến hành sao trích camera tại tầng 7, tầng 8 khách sạn T2 phát hiện có nội dung liên quan đến vụ việc nên đã tiến hành sao trích 03 tệp tin video từ phần lưu trữ dữ liệu của 02 mắt camera trên sang 01 USB màu đen có ghi chữ “ HIKSEMI 8 GB” dung lượng 8 GB và tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Cơ quan CSĐT ra quyết định trưng cầu giám định số 2771 ngày 10/7/2025 giám định kỹ thuật số điện tử 03 đoạn video đã thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định.
Ngày 10/7/2025 Cơ quan CSĐT công an tỉnh N đã ra quyết định trưng cầu giám định số 2772, trưng cầu V2 Bộ C1 giám định 30 viên vật liệu hình cầu màu nâu đỏ thẫm là gì? Khối lượng?; 10 hạt kim loại màu vàng là kim loại gì, khối lượng, hàm lượng. 01 nhẫn tròn trơn vật liệu màu xanh là gì? Khối lượng?; 01 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu gắn ở hai bên là kim loại gì? Khối lượng? Hàm lượng? Các viên vật liệu gì?
Tại bản kết luận giám định số 5273 ngày 18/7/2025 của V2 Bộ C1 kết luận:
- - 01 vòng tay được chế tác dạng 01 sợi dây vật liệu màu đỏ lồng, 30 viên vật liệu hình cầu màu nâu đỏ và 10 hạt bằng kim loại màu vàng có hình dạng và kích thước khác nhau trong đó 10 hạt bằng kim loại màu vàng có hình dạng và kích thước khác nhau có tổng khối lượng 1,34 gram đều là vàng (AU), hàm lượng AU trung bình là 99,92%, 30 viên vật liệu hình cầu màu nâu đỏ có tổng khối lượng 4,69 gram đều là Granat tự nhiên;
- - 01 nhẫn tròn trơn màu xanh có khối lượng 2,00 gram là ngọc Jade Jadeit tự nhiên (Jade loại A);
- - 01 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu gắn ở hai bên có tổng khối lượng 6,31 gram (tính cả khối lượng các viên vật liệu), trong đó: Phần kim loại màu vàng là vàng, hàm lượng Au trung bình: 99,90% và 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu đều là đá Cubic Zirconia (CZ).
Ngày 31/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra yêu cầu định giá tài sản số 6871/YC- CQCSĐT định giá tài sản đối với 01 vòng tay được chế tác dạng 01 sợi dây vật liệu màu đỏ, 30 viên vật liệu hình cầu màu nâu đỏ và 10 hạt bằng kim loại màu vàng có hình dạng và kích thước khác nhau; 01 nhẫn tròn trơn màu xanh có khối lượng 2,00 gram là ngọc Jade Jadeit tự nhiên (Jade loại A); 01 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu gắn ở hai bên có tổng khối lượng 6,31 gram (tính cả khối lượng các viên vật liệu), trong đó: Phần kim loại màu vàng là vàng, hàm lượng Au trung bình: 99,90% và 01 (một) viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng tỉnh Ninh Bình kết luận: 01 vòng đeo tay được lồng 30 viên Granat tự nhiên màu nâu đỏ có khối lượng 4,69 gram và 10 hạt có hình dạng và kích thước khác nhau có tổng khối lượng 1,34 gram đều là vàng (AU) hàm lượng trung bình 99,92 % trị giá 4.333.000 đồng (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng); 01nhẫn tròn trơn màu xanh có khối lượng 2,00 gram là ngọc Jade Jadeit tự nhiên ( Jade loại A) trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) nhẫn màu vàng có hàm lượng AU trung bình là 99,90%, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu đều là đá Cubic Ziconia (CZ) có tổng khối lượng 6,31 gram trị giá 16.167.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm sáu mươi bẩy triệu đồng). Tổng số tài sản trên có trị giá 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-KV1 ngày 14 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Thị L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Về Xử lý vật chứng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 02 tờ giấy ăn màu trắng có hoa văn màu xanh, kích thước 20x20 cm.
- Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng pháp luật để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản kiểm tra vụ việc; biên bản khám nghiệm hiện trường; Lời khai của bị hại; Vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/6/2025 tại phòng 802 Khách sạn T1 ở Phố B, phường H, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo Phạm Thị L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 vòng đeo tay được lồng 30 viên Granat tự nhiên màu nâu đỏ có khối lượng 4,69 gram và 10 hạt có hình dạng và kích thước khác nhau có tổng khối lượng 1,34 gram đều là vàng (AU) hàm lượng trung bình 99,92 %; 01nhẫn tròn trơn màu xanh có khối lượng 2,00 gram là ngọc Jade Jadeit tự nhiên ( Jade loại A); 01 nhẫn màu vàng có hàm lượng AU trung bình là 99,90%, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu đều là đá Cubic Ziconia (CZ) có tổng khối lượng 6,31 gram của chị Hà Thị Thanh T với tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 23.000.000 đồng thì bị phát hiện.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn dân cư. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị L không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Có thành tích xuất sắc trong phong trào của tỉnh; khi bị phát hiện đã giao nộp tài sản để trả lại cho bị hại; bản thân bị cáo Lý mắc bệnh hiểm nghèo (K tuyến giáp); bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 tờ giấy ăn màu trắng có hoa văn màu xanh, kích thước 20x20 là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
Quá trình điều tra xác định 01 vòng đeo tay được lồng 30 viên Granat tự nhiên màu nâu đỏ có khối lượng 4,69 gram và 10 hạt có hình dạng và kích thước khác nhau có tổng khối lượng 1,34 gram đều là vàng (AU) hàm lượng trung bình 99,92 %; 01nhẫn tròn trơn màu xanh có khối lượng 2,00 gram là ngọc Jade Jadeit tự nhiên ( Jade loại A); 01 (một) nhẫn màu vàng có hàm lượng AU trung bình là 99,90%, mặt nhẫn có gắn 01 viên vật liệu to không màu và 20 viên vật liệu nhỏ không màu đều là đá Cubic Ziconia (CZ) có tổng khối lượng 6,31 gram mà Phạm Thị L giao nộp là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị Thanh T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. HĐXX không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Hà Thị Thanh T không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Thị L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
- về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 02 tờ giấy ăn màu trắng có hoa văn màu xanh, kích thước 20x20 cm.
Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa Công an tỉnh phố Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Ninh Bình.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Thị L được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Tuyết |
Bản án số 130/2025/HSST ngày 11/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 130/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm thị L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
