Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

Bản án số: 130/2025/HS-ST

Ngày: 26-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ

Phạm Thị Tư

- Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa:Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: K’ Bội, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1980 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: Cơ ho; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’ Brêu, sinh năm 1950 (đã chết) và con bà Ka D, sinh năm 1955, hiện cư trú tại thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Ka N, sinh năm 1975 (đã chết); con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L - Phân trại tạm giam khu vực B từ ngày 19/8/2025 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông K’ Més, sinh năm: 1941; nơi cư trú: Số A thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Chị Ka N1, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số A thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Anh K’ B, sinh năm: 1997; nơi cư trú: Số A thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn liên quan đến đất đai nên tối ngày 02/5/2025, sau khi uống rượu tại nhà thì K1 đi bộ qua nhà ông K2 (là cha vợ của K1) nhưng gia đình ông K2 không cho vào trong nhà nên K1 bực tức, chửi mắng rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 03/5/2025, K1 lại sang nhà ông K2 và thấy ông K2 đang ngồi làm cá ở phía sau bếp nên K1 ra ngoài sân trước nhà lấy 01 cây sắt vuông dài 125cm, cạnh 02 cm rồi đi vòng ra phía sau nhà ông K2. Lúc này, ông K2 đang ở tư thế ngồi thì K1 cầm gậy sắt đi đến đứng đối diện, dùng hai tay cầm cây gậy đánh nhiều cái theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của ông K2. Ông K2 đưa tay lên đỡ thì bị K1 đánh trúng vào tay trái. Nghe ông K3 la hét nên con gái ông K2 là bà Ka N1 chạy tới can ngăn, giằng co cây gậy của K1. Sau đó, ông K4 (con rể ông K2) từ trên nhà đi xuống thì K1 cầm cây gậy bỏ chạy đến nhà mẹ ruột của K1 là Ka D tại thôn Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng và vứt cây gậy tại đó. Ông K2 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế D1, sau đó chuyển đến Bệnh viện I điều trị.

Hậu quả: Ông K2 bị thương tích ở vùng gò má trái 3cm, vết thương cung mày 2cm, vết thương trán trái 2x3cm, vết thương trán giữa 4cm, vết thương đỉnh đầu 4cm, vết thương sau chẩm 3cm và 4cm, vết thương mặt trong 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước 4x3cm, gãy hở xương trụ, vết thương mu bàn tay trái kích thước 3x2cm rách da, vết thương mặt mu đốt giữa ngón III, IV bàn tay phải khoảng 1cm rách da, gãy 1/3 dưới xương trụ trái.

Tại Bản kết luận giám định số: 265/KLTTCT- PYLĐ ngày 06/6/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông K’ Més tại thời điểm giám định là 31% (Ba mươi mốt phần trăm). Tổn thương do vật tày có cạnh gây nên.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu giữ 01 cây sắt hình trụ vuông, dài 125cm, cạnh 02 cm.

Về phần dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, các bên chưa thống nhất về phần bồi thường dân sự nên K1 chưa bồi thường cho ông K2.

Cáo trạng số 49/CT-VKSBL ngày 01/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố K’Bội về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Xử phạt bị cáo K1 từ 05 đến 06 năm tù. Tịch thu tiêu hủy 01 cây sắt hình trụ vuông, dài 125cm, cạnh 02 cm. Công nhận sự thỏa thuận bị cáo K1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông K2 số tiền 30.300.000đ. Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của luật.

- Bị cáo K1 không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 30.300.000đ.

- Bị hại ông K2 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 30.300.000đ, gồm: chi phí nằm viện 4.500.000đ, chi phí ăn uống trong thời gian nằm viện 1.000.000đ, tiền xe đi lại để điều trị 2.800.000đ, chi phí thủ tục giấy tờ liên quan 5.000.000đ, tổn thất tinh thần 2.000.000đ, tiền công chăm sóc trong thời gian 02 tháng là 15.000.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định:

Do K’Bội có mâu thuẫn liên quan đến đất đai với gia đình ông K2 (là cha vợ của K1) nên khoảng 08 giờ 00 ngày 03/5/2025 thì K1 sang nhà ông K2 và thấy ông K2 đang ngồi làm cá ở phía sau bếp. Lúc này K1 đi ra ngoài sân trước nhà lấy 01 cây sắt vuông dài 125cm, cạnh 02 cm rồi đi vòng ra phía sau nhà ông K2 và thấy ông K2 đang ở tư thế ngồi thì K1 cầm gậy sắt đi đến đứng đối diện, dùng hai tay cầm cây gậy đánh nhiều cái theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của ông K2. Ông K2 đưa tay lên đỡ thì bị K1 đánh trúng vào tay trái. Nghe ông K2 la hét nên con gái ông K2 là bà Ka N1 chạy tới can ngăn, giằng co cây gậy của K1. Sau đó, ông K4 (con rể ông K2) từ trên nhà đi xuống thì K1 cầm cây gậy bỏ chạy đến nhà mẹ ruột của K1 là Ka D và vứt cây gậy tại đó. Ông K2 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế D1, sau đó chuyển đến Bệnh viện I điều trị. Hậu quả, ông K2 bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ là 31% (Ba mươi mốt phần trăm).

Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, mục đích là muốn gây thương tích cho bị hại và thời điểm này bị hại đã 84 tuổi.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo K1 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội với ông K2 (đã 84 tuổi) là người đủ 70 tuổi trở lên nhưng đây là tình tiết định khung theo điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về hình phạt: Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố dùng 01 cây sắt hình trụ vuông, dài 125cm, cạnh 02 cm (là hung khí nguy hiểm) đánh nhiều cái đánh vào vùng đầu và tay của bị hại, gây thương tích 31% cho bị hại là người già yếu (đã 84 tuổi) đến khi được can ngăn thì bị cáo mới dừng lại. Do đó, cần phải có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 cây sắt hình trụ vuông, dài 125cm, cạnh 02cm. Xét thấy, đây là hung khí mà bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại, giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông K2 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 30.300.000đ, gồm: chi phí nằm viện 4.500.000đ, chi phí ăn uống trong thời gian nằm viện 1.000.000đ, tiền xe đi lại để điều trị 2.800.000đ, chi phí thủ tục giấy tờ liên quan 5.000.000đ, tổn thất tinh thần 2.000.000đ và tiền công chăm sóc trong thời gian 02 tháng là 15.000.000đ.

Bị cáo K1 cũng đồng ý bồi thường các khoản tiền nêu trên như yêu cầu của bị hại.

Xét thấy tại phiên tòa giữa bị cáo, bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại, thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy cần công nhận thỏa thuận bồi thường nêu trên, theo đó bị cáo K1 có nghĩa vụ bồi thường cho ông K2 số tiền 30.300.000đ.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo K’ Bội phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

    Xử phạt bị cáo K1 05 (Năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 19/8/2025.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây sắt hình trụ vuông, dài 125cm, cạnh 02cm.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Lâm Đồng).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự.

    Công nhận sự thỏa thuận, bị cáo K1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại ông K2 số tiền 30.300.000đ (Ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo K’ Bội phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.515.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- CA tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND khu vực 4 - Lâm Đồng;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- THADS tỉnh Lâm Đồng;

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 130/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 130/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo K' Bội phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger