|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2025/HS-ST Ngày: 23 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Văn Dựa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Tuyền
- Bà Trần Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Xuân H – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thái Long K; Giới tính: Nam; Sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: B H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ và bà Thái Thị Bích N; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 24/10/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 189/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội P, thời gian 23 tháng: Chấp hành xong quyết định ngày 15/6/2024.
Nhân thân:
- Ngày 09/7/2010, bị Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở chữa bệnh (lần 2) tại Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu theo quyết định số 8120/QĐ-UBND, thời gian 24 tháng.
- Ngày 10/9/2012, bị Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở chữa bệnh (lân 3) tại Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu theo quyết định số 7007/QĐ-UBND, thời gian 24 tháng.
- Ngày 07/4/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 21 tháng. Ngày 29/11/2017 chấp hành xong.
- Ngày 24/3/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 31/2020/HS-ST. Ngày 14/12/2021, chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam T4. Qua xác minh, ngày 29/9/2020, K đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 10/12/2024.
Bị hại: Ông Thiều Sỹ T, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: B Ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: A Quốc lộ E, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. - Ông Phạm Tuyến D, sinh năm: 1985 là đại diện theo ủy quyền của Hộ kinh doanh cầm đồ Hồ Hoàng A (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, N, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 30/11/2024, Phan Thái Long K đi bộ đến trước địa chỉ: I đường số C, KDC P, Ấp B, xã P, huyện B thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen, biến số: 54N7- 6616 để ở lề đường, chìa khóa cắm sẵn tại khóa xe nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt, K liền ngồi lên xe, dùng tay phải mở khóa, nổ máy xe và điều khiển xe trên chạy thoát về Quận H.
Đến 18 giờ cùng ngày, K gặp bạn tên D1 (không rõ lai lịch) đang đi bộ ở đường B, Phường H, Quận H nên hỏi D1 có biết chỗ cầm giấy đăng ký xe không thì D1 nói biết. K chở D1 đến tiệm cầm đồ Hồ Hoàng A, địa chỉ: D N, Phường C, Quận H. Tại đây, K lấy trong cốp xe ra 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số: 54N7-6616 mang tên Nguyễn Ngọc T1 đưa cho D1. D1 vào tiệm cầm đồ gặp anh Phạm Tuyến D kêu cầm 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số: 54N7-6616, anh Dương C giấy đăng ký và ra ngoài xe kiểm tra thấy thông tin trên giấy đăng ký xe trùng với số khung, số máy và biến số xe nên đồng ý cầm với giá 1.000.000 đồng. D1 nhận tiền và lên xe để K chở về đường B, Phường H, Quận H. Trên đường về D1 nói với K là cầm giấy đăng ký xe được 1.000.000 đồng, rồi đưa tiền và giấy cầm xe cho: Khương. K cho D1 50.000 đồng rồi điều khiển xe đi về nhà.
Ngày 06/12/2024, K đang đứng trước địa chi: B H, Phường H, Quận H thì bị Tổ Tuần tra 363 Công an Thành phố mời về trụ sở Công an P1, Quận H làm việc. Tại đây, K khai nhận hực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen đỏ biển số: 54N7-6616 ở huyện B nên Công an P1, Quận H chuyển hồ sơ, Phan Thái Long K cùng vật chứng đên Công an xã P, huyện B để xử lý theo thẩm quyên. Phát hiện bị mất xe, anh Thiêu Sĩ T2 đến Công an xã P trình báo (Bút lục 17-45, 66-113, 116-165).
Bản kết luận định giá tài sản số 3957/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 xe máy Honda Airblade, biển số 54N7-6616, giá trị còn lại 8.500.000 đồng (Bút lục 46).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phan Thái Long K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của K phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; tang vật thu giữ, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án ((Bút lục 17-45, 66-113, 116-165).
Đối với Phạm Tuyến D khai: khi nhận cầm giấy đăng ký xe mô tô biển số 54N7-6616, không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý (Bút lục 81).
Vật chứng vụ án:
- 01 USB chứa video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp, lưu cùng hồ sơ vụ án (Bút lục 28b).
- 01 USB chứa video ghi lại diễn biến một người phụ nữ cầm giấy đăng ký xe biển số 54N7-6617 mang tên Nguyễn Ngọc T1 với giá 1.000.000 đồng, lưu cùng hồ sơ vụ án (Bút lục 78).
- 01 hợp đồng cầm đồ của tiệm cầm đồ Hồ Hoàng A, địa chỉ: số D N, Phường C, Quận H, lưu cùng hồ sơ vụ án (Bút lục 150).
- 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen đỏ, biển số: 54N7-6616, số khung: C-0053724, số máy: E-0053724. Qua xác minh do Nguyễn Ngọc T1 đứng tên giấy đăng ký xe. Anh Thiều Sỹ T khai mua xe trên của anh Nguyễn Ngọc T1 nhưng không làm thủ tục sang tên. 01 giấy đăng ký xe số 36000957, biển số 36BT-018.61 mang tên Thiều Sỹ T; 01 giấy đăng ký xe biển số 54N7-6616 mang tên Nguyễn Ngọc T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lại cho anh T (Bút lục 49-51, 95-107).
- 01 áo thun ngắn tay màu trắng, viền đen có họa tiết màu vàng; 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 quần jean màu đen; 01 nón màu đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám (Bút lục 145).
Các vật chứng số (5), Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã ra quyết đinh chuyển vật chứng đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ, chờ xử lý (Bút lục 192).
Tại bản Cáo trạng số 120/CT - VKSBC ngày 18 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Thái Long K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Phan Thái Long K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về dân sự: Bị hại ông Thiều Sỹ T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Tuyến D không có yêu cầu bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thái Long K tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai; bản ảnh hiện trường, kết quả định giá tài sản...cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 30/11/2024, Phan Thái Long K đi bộ đến trước địa chỉ: I đường số C, KDC P, Ấp B, xã P, huyện B thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đỏ đen, biến số: 54N7- 6616 của ông Thiều Sỹ T để ở lề đường, chìa khóa cắm sẵn tại khóa xe nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt và sau đó K liền ngồi lên xe, dùng tay phải mở khóa, nổ máy xe và điều khiển xe trên chạy thoát về Quận H. Giá trị tài sản mà bị cáo Phan Thái Long K trộm cắp là 8.500.000 đồng. (Theo Kết luận định giá số 3957/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B).
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Thái Long K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, T3 phồ Hồ Chí M đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị mức án 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là chưa tương ứng với hành vi của bị cáo gây ra.
[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang cho nhân dân.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự, từng bị đưa đi cai nghiện nhiều lần và có nhân thân xấu từng bị xử lý hình sự về tội “Tàng trữ trái phéo chất ma túy” nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tiền sự: Ngày 24/10/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 189/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội P, thời gian 23 tháng: Chấp hành xong quyết định ngày 15/6/2024 và có nhân thân xấu: Ngày 09/7/2010, bị Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở chữa bệnh (lần 2) tại Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu theo quyết định số 8120/QĐ-UBND, thời gian 24 tháng; Ngày 10/9/2012, bị Uy ban nhân dân Q, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở chữa bệnh (lân 3) tại Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu theo quyết định số 7007/QĐ-UBND, thời gian 24 tháng; Ngày 07/4/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 21 tháng. Ngày 29/11/2017 chấp hành xong; Ngày 24/3/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 31/2020/HS-ST. Ngày 14/12/2021, chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam T4. Qua xác minh, ngày 29/9/2020, K đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã xóa án tích.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 USB chứa video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp, bảo lưu cùng hồ sơ vụ án.
Đối với 01 USB chứa video ghi lại diễn biến một người phụ nữ cầm giấy đăng ký xe biển số 54N7-6616 mang tên Nguyễn Ngọc T1 với giá 1.000.000 đồng, bảo lưu cùng hồ sơ vụ án.
Đối với 01 hợp đồng cầm đồ của tiệm cầm đồ Hồ Hoàng A, địa chỉ: số D N, Phường C, Quận H, bảo lưu cùng hồ sơ vụ án.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen đỏ, biển số: 54N7-6616, số khung: C-0053724, số máy: E-0053724. Qua xác minh do Nguyễn Ngọc T1 đứng tên giấy đăng ký xe. Anh Thiều Sỹ T khai mua xe trên của anh Nguyễn Ngọc T1 nhưng không làm thủ tục sang tên. 01 giấy đăng ký xe số 36000957, biển số 36BT-018.61 mang tên Thiều Sỹ T; 01 giấy đăng ký xe biển số 54N7-6616 mang tên Nguyễn Ngọc T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lại cho anh T, nên không xét.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng, viền đen có họa tiết màu vàng; 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 quần jean màu đen; 01 nón màu đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám. Đây là trang phục K mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về dân sự: Ghi nhận bị hại Thiều Sỹ Thuận và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Tuyến D không yêu cầu K bồi thường.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phan Thái Long K 02 (hai) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2024.
- * Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Bảo lưu hồ sơ vụ án đối với 01 USB chứa video ghi lại diễn biến vụ trộm cắp; 01 USB chứa video ghi lại diễn biến một người phụ nữ cầm giấy đăng ký xe biển số 54N7-6616 mang tên Nguyễn Ngọc T1 với giá 1.000.000 đồng; 01 hợp đồng cầm đồ của tiệm cầm đồ Hồ Hoàng A, địa chỉ: số D N, Phường C, Quận H, bảo lưu cùng hồ sơ vụ án ghi lại nội dung liên quan đến vụ án.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng, viền đen có họa tiết màu vàng; 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 quần jean màu đen; 01 nón màu đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xám.
- (các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao nhận tang tài vật được lập vào ngày 17/3/2025 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
- * Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về án phí: Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 130/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 130/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Trộm cắp tài sản”
