TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10 – AN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Năng
- Ông Trương Thành Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 2004
- Bị đơn: Lâm Hữu T1, sinh năm: 2001
Số CCCD: [...]
Địa chỉ: ấp B, xã B, tỉnh An Giang. (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
SỐ CCCD: [...]
Địa chỉ: ấp H, xã A, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/3/2025, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Lâm Hữu T1 kết hôn năm 2023, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang ngày 24/10/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T1 không quan tâm, chăm lo vợ con, không lo kinh tế gia đình mà còn gây nợ từ đó vợ chồng bất đồng nhiều mặt trong cuộc sống, hiện nay bà không còn tình cảm với ông T1 nên yêu cầu được ly hôn ông T1.
- Về con chung: có một con chung tên Lâm Gia L, sinh ngày 12/5/2024. Hiện con chung do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại biên bản hòa giải ngày 13/8/2025 ông Lâm Hữu T1 trình bày:
- Về hôn nhân: ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm T về thời gian và điều kiện kết hôn, ông xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn như bà Cẩm T trình bày, tuy nhiên không phải do ông ăn chơi gây nợ mà do ông làm ăn thua lỗ. Vợ chồng ông đã không còn sống chung 03 tháng nay nhưng ông vẫn còn thương vợ, do ông làm ăn xa nên không thể tới lui thăm nom chăm sóc con chung được. Hiện nay ông vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn, xin được đoàn tụ.
- Về con chung: có một con chung tên Lâm Gia L, sinh ngày 12/5/2024. Hiện con chung do bà Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông đồng ý để bà Cẩm T được quyền nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt, không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Ông Lâm Hữu T1 vắng mặt, không có văn bản thay đổi ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Lâm Hữu T1 là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: ông Lâm Hữu T1 đăng ký thường trú tại ấp H, xã A, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Lâm Hữu T1 kết hôn năm 2023, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 24/10/2023 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Lâm Hữu T1 được đoàn tụ, nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm T vẫn cương quyết ly hôn. Ông Lâm Hữu T1 có trình bày tại các phiên hòa giải rằng ông còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Cẩm T và không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm T. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân là dựa trên cơ sở tình cảm và sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng, nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày không còn tình cảm với ông Lâm Hữu T1, hai bên không còn sống chung từ tháng 9 năm 2024 đến nay, ông Lâm Hữu T1 không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng từ khi ông bà không còn sống chung đến nay. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm T.
2.2 Về con chung: bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Lâm Hữu T1 có một con chung tên Lâm Gia L, sinh ngày 12/5/2024 hiện đang do bà Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu được nuôi con chung. Nhận thấy hiện cháu Lâm Gia L còn nhỏ, để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến tâm lý của cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm T được quyền nuôi con chung tên Lâm Gia L, sinh ngày 12/5/2024.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Thị Cẩm T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Lâm Hữu T1.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Cẩm T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.
1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn ông Lâm Hữu T1.
2. Về con chung: bà Nguyễn Thị Cẩm T được quyền nuôi con chung tên Lâm Gia L, sinh ngày 12/5/2024.
Ông Lâm Hữu T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
3. Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018008 ngày 16/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 10 - An Giang.
4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Lâm Hữu T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 130/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 130/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
