|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 130/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/5/2025 V/v: “Xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Nguyên Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.
- - Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Lê Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2453/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc "Xin ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Phương T, sinh năm 2001
- Địa chỉ: 9, tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Tạm trú: 115/6, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Đỗ Thành T1, sinh năm 1999
- Địa chỉ: 9, tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Tạm trú: 103B tổ A, khu phố C (nay là khu phố A), phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn Bà Nguyễn Ngọc Phương T trình bày:
Bà và ông T1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường A. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên về sau cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Mặc dù cả hai cũng đã nhiều lần ngồi lại với nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn ông T1.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đỗ Ngọc Khánh A, sinh ngày 16/12/2018 và cháu Đỗ Quốc A1, sinh ngày 29/11/2017. Khi ly hôn, cháu Đỗ Ngọc Khánh A sẽ do bà trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Cháu Đỗ Quốc A1 sẽ do ông T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Bị đơn không có mặt tại Toà án để làm việc, hoà giải theo giấy triệu tập, không cung cấp bản tự khai và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định.
Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T. Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Ngọc Khánh A cho bà T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Quốc A1 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có. Do ông T1 không có bản tự khai trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung, nên đề nghị đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự, nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông T1, bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
[3] Ông T1, bà T sau khi kết hôn chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T trình bày do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn ông T1.
Tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Trong quá trình chung sống giữa ông T1, bà T có phát sinh mâu thuẫn hay không địa phương không nắm do không trình báo địa phương mâu thuẫn trong quá trình chung sống”.
Tòa án đã nhiều lần thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện hòa giải cho ông T1, bà T hàn gắn đoàn tụ, nhưng ông T1 vắng mặt không lý do, nên không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Toà án đã nhiều lần làm việc nhưng bà T cương quyết xin ly hôn, cho thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
[4] Về con chung: Ông T1 bà T có 02 con chung là cháu Đỗ Ngọc Khánh A, sinh ngày 16/12/2018 và cháu Đỗ Quốc A1, sinh ngày 29/11/2017. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đỗ Ngọc Khánh A. Cháu Đỗ Quốc A1 sẽ do ông T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về con chung: Ông T1 bà T có 02 con chung cháu Đỗ Ngọc Khánh A (2018, bà T đang nuôi), cháu Đỗ Quốc A1 (2017, ông T1 đang nuôi dưỡng). Do đó, giao cháu Đỗ Ngọc Khánh A cho bà T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Quốc A1 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng để đảm bảo điều kiện ổn định về mọi mặt cho các cháu. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì không trực tiếp nuôi con nên ông T1 bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết. Do ông T1 không có bản tự khai trình bày về tài sản chung, nợ chung. Do đó, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp tại biên lai số 0004277 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà T đã nộp xong án phí.
[7] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 203; Điều 220, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Ngọc Phương T và ông Đỗ Thành T1.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc Khánh A, sinh ngày 16/12/2018 cho bà Nguyễn Ngọc Phương T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Giao cháu Đỗ Quốc A1, sinh ngày 29/11/2017, cho ông Đỗ Thành T1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì không trực tiếp nuôi con nên bà Nguyễn Ngọc Phương T và ông Đỗ Thành T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc Phương T trình bày về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết. Ông Đỗ Thành T1 không có bản tự khai trình bày về tài sản chung, nợ chung. Do đó, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Phương T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm bà Nguyễn Ngọc Phương T đã nộp tại biên lai số 0004277 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Nguyễn Ngọc Phương T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Phương T và ông Đỗ Thành T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Tuyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Thị Kim Kiên Trần Văn Chánh Lê Ngọc Tuyền
Bản án số 130/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về xin ly hôn
- Số bản án: 130/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trinh
