TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ HUẾ
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 130/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Nguyễn Vũ và ông Nguyễn Văn Hóa.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Linh Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đại S; sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 13 tháng 5 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Đại S quen biết, tìm hiểu nhau được một thời gian thì tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 11/5/1999. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống, anh S hay kiếm chuyện gây gỗ với vợ con khiến cho cuộc sống trong gia đình vô cùng mệt mỏi, không có hạnh phúc, ảnh hưởng đến con cái. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu, gia đình nội ngoại đã nhiều lần hòa giải nhưng không khắc phục được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đại S.
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Đại Đ, sinh ngày 10/6/1999; Nguyễn Anh T, sinh ngày 21/5/2006 và Nguyễn Đại Đăng K, sinh ngày 18/4/2018. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu K cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với hai con chung là Nguyễn Đại Đ và Nguyễn Anh T đã đủ tuổi trưởng thành, có việc làm ổn định. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn;
- Bản sao giấy khai sinh;
- Bản sao căn cước công dân;
- Đơn xác nhận nơi cư trú.
Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, ngày 20/5/2025, bị đơn có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Về quan hệ hôn nhân cơ bản như chị H trình bày, sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại xã P, huyện P. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2023 xảy ra mâu thuẫn nên hai người sống ly thân. Tuy nhiên, chưa đến mức trầm trọng, anh S xin đoàn tụ vợ chồng. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con, do nguyện vọng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nên bị đơn không có ý kiến gì. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn xin vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt.
Theo biên bản xác minh, chính quyền địa phương cho biết anh Nguyễn Đại S và chị Lê Thị H có đăng ký kết hôn và thường trú tại thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Hiện nay, do vợ chồng xảy ra mâu thuẩn nên giữa hai người đã sống ly thân, về con chung có 03 người con như các đương sự trình bày.
Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn xin vắng mặt nên nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hoà giải và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Đại S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 11/5/1999. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Nguyễn Đại S là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa chị H và anh S, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau khiến cho cuộc sống trong gia đình căng thẳng, gia đình không có hạnh phúc. Bởi vậy, từ cuối năm 2023 cho đến nay giữa hai người đã sống ly thân, không ai quan tâm, chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Sau khi thụ lý vụ án, tuy anh S xin đoàn tụ vợ chồng nhưng Tòa án không thể tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt; điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa hai người đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Yêu cầu của chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung là Nguyễn Đại Đăng K, sinh ngày 18/4/2018. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu K đang được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời cháu đang trong độ tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp từ người mẹ và cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn. Đối với hai con chung là Nguyễn Đại Đ và Nguyễn Anh T đã đủ tuổi trưởng thành, không bị bệnh tật gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Bà H trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị H, không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ vợ chồng của anh Võ Đại S1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đại S.
- Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao người con chung là Nguyễn Đại Đăng K, sinh ngày 18/4/2018 cho chị Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Đại S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với hai con chung là Nguyễn Đại Đ và Nguyễn Anh T đã đủ tuổi trưởng thành, không bị bệnh tật gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Đại S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002656 ngày 15/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Sang |
Bản án số 130/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 130/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
