|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2025/DS-ST Ngày: 17-6-2025 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Nguyệt Mai
- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 246/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-DS ngày 07/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2025/QĐST-DS ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
Địa chỉ trụ sở: 266 - B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H
Địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 7700/2024/UQ-TGĐ ngày 08/11/2024)
(Vắng mặt – Có đơn đề nghị vắng mặt)
Bị đơn: Ông Ung Chấn H1, sinh năm 1993
Địa chỉ thường trú: A T, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: B T, Phường A (nay là Phường A), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2024 và tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành được phiên hòa giải, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Huy H trình bày:
Ngày 14/03/2018, ông Ung Chấn H1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là S1) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 - các tài liệu này gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 168.141.582 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 172.007.300 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên đã được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1) ngày 01/08/2022, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ ông Ung Chấn H1 còn thiếu tại thời điểm này là 14.688.761 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1) và áp dụng lãi suất là 2.6%/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%.
Do ông Ung Chấn H1 vi phạm hợp đồng đã ký và trong quá trình thu hồi nợ ông Ung Chấn H1 không có thiện chí thanh toán nợ quá hạn nên S1 đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 5 để giải quyết theo đúng pháp luật hiện hành.
Tính đến ngày 17/6/2025, ông H1 còn nợ các khoản sau:
- - Nợ gốc: 13.668.761 đồng
- - Lãi quá hạn: 18.695.588 đồng
- - Tổng cộng: 32.364.349 đồng
(Bằng chữ: Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng).
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 14.668.761 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2.6% x 150%) từ ngày S1 chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù S1 đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông H1, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời S1 cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông H1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S1, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Ung Chấn H1 phải trả ngay một lần cho S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/6/2025 là 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng), trong đó:
- - Nợ gốc: 13.668.761 đồng
- - Lãi quá hạn: 18.695.588 đồng
- Ông Ung Chấn H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Thẻ tín dụng của ông Ung Chấn H1 là thẻ tín dụng cá nhân, là nợ riêng của ông Ung Chấn H1. Do đó, S1 xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông H1 có nghĩa vụ trả nợ cho S1, không liên quan tới cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác.
Bị đơn ông Ung Chấn H1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 5 đã thực hiện các thủ tục tố tụng triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án nhưng bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, phản hồi; không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì do đó Tòa án không thu thập được ý kiến, yêu cầu của bị đơn.
Tại phiên tòa,
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở để xác định ngày 14/3/2018, ông Ung Chấn H1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng; lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng S) khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Ung Chấn H1 (sau đây viết tắt là ông H1) trả số tiền còn nợ phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi là bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại A Lầu A T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo kết quả xác minh của Công an P, Quận E tại Công văn số 1010/TAQ5 ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về áp dụng pháp luật để giải quyết:
Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp ký ngày 14/3/2018 nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết vụ án.
[1.3] Về người tham gia tố tụng:
Nguời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có yêu cầu phản tố và không có người đại diện tham gia phiên tòa do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:
Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ được quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật số tiền tạm tính đến ngày 17/6/2025 là 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng) trong đó: Nợ gốc là 13.668.761 đồng (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng); lãi quá hạn là 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng) và đề nghị bị đơn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 do bị đơn đề nghị và được Ngân hàng S phê duyệt, các tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của khách hàng Ung Chấn H1 có cơ sở xác định bị đơn đã đề nghị nguyên đơn cấp thẻ tín dụng và được nguyên đơn chấp thuận phát hành và cấp cho bị đơn sử dụng thẻ tín dụng quốc tế loại VS payWave Cre Classic, mã số xác định chủ thẻ của bị đơn là 472074-2464, hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng.
Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng S cho bị đơn dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N) nên có giá trị pháp lý, ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Căn cứ cam kết của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nêu trên có nội dung “bằng việc ký vào mẫu đơn này, tôi/chúng tôi xác định rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng S1 chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S1, cùng với mẫu đơn này, tạo nên một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý giữa chính tôi/chúng tôi và Đơn vị Phát Hành Thẻ cho việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Sl”, như vậy việc cấp tín dụng của Ngân hàng S cho bị đơn và việc sử dụng dịch vụ tín dụng dưới hình thức thẻ tín dụng của bị đơn do Ngân hàng S cung cấp được điều chỉnh bởi bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 15/8/2016).
[2.2] Về việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn:
Căn cứ các Tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp, thể hiện quá trình sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn từ ngày kích hoạt thẻ, bị đơn đã thực hiện các giao dịch và thanh toán cho Ngân hàng đến tháng 8/2022 thì ngưng thanh toán. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên đến ngày 01/8/2022, Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Số dư nợ còn thiếu tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là đúng theo nội dung thỏa thuận tại Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
[2.3] Về số tiền vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn:
Về số tiền nợ gốc: Theo các bảng tóm tắt sao kê tài khoản Ung Chấn H1, số thẻ: 472074-2464 - thể hiện tính đến ngày 17/6/2025, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 13.668.761 đồng (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng). Số nợ gốc trên được nguyên đơn xác định từ số dư nợ còn thiếu tại thời điểm chuyển nợ quá hạn bắt đầu từ kỳ thanh toán tháng 9/2022 với số tiền là 13.668.761 đồng. Việc Ngân hàng S chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm chuyển nợ quá hạn thành nợ gốc là đúng theo thỏa thuận tại Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Về số tiền nợ lãi quá hạn: Theo các bảng tóm tắt sao kê tài khoản Ung Chấn H1, số tiền lãi quá hạn là 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng). Nguyên đơn tính nợ lãi quá hạn trên tổng số tiền nợ gốc 14.668.761 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2.6% * 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là kỳ ngày 31/8/2022 tạm tính đến thời điểm xét xử là ngày 17/6/2025, thấy rằng:
Đối với lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn: Theo khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định “lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ”. Theo Quyết định số 4274/2019/QĐ-TTT ngày 26/12/2019 của Ngân hàng S, lãi suất thẻ tín dụng quốc tế là 2,4%-2,6%/tháng. Như vậy, việc Ngân hàng S tính lãi suất 2,6%/tháng và lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất 2,6%/tháng là 3,9%/tháng là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và có căn cứ theo khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.
Số dư nợ được chuyển thành nợ gốc từ ngày 31/8/2022 nên việc nguyên đơn áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn 3,9%/tháng từ kỳ thanh toán 31/8/2022 cho đến thời điểm Tòa án giải quyết vụ án là ngày 17/6/2025 theo bản Tóm tắt sao kê ngày 17/6/2025 với số tiền 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng) là phù hợp với thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn tại Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền nợ gốc mà nguyên đơn yêu cầu nêu trên. Do đó, việc nguyên đơn tính đến ngày 17/6/2025, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 13.668.761 đồng (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng); lãi quá hạn là 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng) là phù hợp theo các nội dung đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N), khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên có cơ sở và được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Đối với yêu cầu kể từ ngày 18/6/2025, bị đơn vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; có căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm nên được chấp nhận.
[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
Căn cứ cam kết về nghĩa vụ thanh toán của người đề nghị cấp tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 có nội dung “Tôi/chúng tôi chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi/chúng tôi đã được cấp” và các quy định theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán cho nguyên đơn. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận của bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán nêu trên là có cơ sở để chấp nhận.
Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 do cá nhân bị đơn đề nghị cấp, không đăng ký thẻ phụ cho cá nhân khác đồng thời nguyên đơn cũng xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn phát sinh từ việc tiêu dùng cá nhân thông qua thẻ tín dụng được cấp nên nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn có nghĩa vụ trả nợ mà không yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác nên việc buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ là có căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ tháng 8/2022 đến nay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần các khoản nợ ngay khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả một lần cho nguyên đơn số tiền là: 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 13.668.761 đồng (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng); lãi quá hạn là 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 18/6/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thanh toán xong.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 1.618.217 đồng (Một triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm mười bảy đồng).
Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 604.321 đồng (Sáu trăm lẻ bốn nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng).
[4] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 102, Điều 144, Điều 147, Điều 179, Điều 180, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 463, 465, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Áp dụng Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Áp dụng Điều 13, khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
Buộc ông Ung Chấn H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/6/2025 là 32.364.349 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 13.668.761 đồng (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng); lãi quá hạn là 18.695.588 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi tám đồng). Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 18/6/2025, ông Ung Chấn H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thi hành án xong.
Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ung Chấn H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.618.217 đồng (Một triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm mười bảy đồng).
H2 lại số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp là 604.321 đồng (Sáu trăm lẻ bốn nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036390, ký hiệu: BLTU/23P ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Linh Sương |
Bản án số 130/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 130/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
