|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2025/DS-PT Ngày: 25/3/2025 V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Ông Lương Phước Đại
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 545/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 269/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 64/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Lê D, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: 1/ Ông Trần Hoàng Lê G, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
2/ Anh Trần Lê Minh Q, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
3/ Bà Trần Hoàng Mộng L, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Số C, đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
4/ Bà Trần Hoàng Mộng Đ, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964.
2/ Chị Trần Thị Diễm T, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
3/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Q1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
4/ Em Trần Lê Thanh T1, sinh năm 2010.
Người giám hộ cho em T1: Ông Trần Hoàng Lê G, sinh năm 1967 (Có mặt).
Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Trần Lê Hoàng D1 trình bày: Cha mẹ ruột của ông là ông Trần Văn T2, sinh năm 1930 (chết năm 2018) và bà Lê Thị C, sinh năm 1934 (chết năm 2020). Ông T2 và bà C có 05 người con chung gồm: 1/ Ông Trần Hoàng Lê M (đã chết), có vợ là bà Nguyễn Thị S và con ruột là Trần Thị Diễn T3 và Trần Lê Minh Q; 2/ Bà Trần Hoàng Mộng L; 3/ Ông Trần Hoàng Lê G; 4/ Bà Trần Hoàng Mộng Đ; 5/ Ông Trần Hoàng Lê D.
Ông Trần Văn T2 tên gọi khác là Trần Văn T4 nên khi làm giấy khai sinh cha ông ghi tên Trần Văn T4 dẫn đến việc giấy khai sinh của ông ghi họ tên cha là Trần Văn T4. Căn cứ giấy xác nhận của Công an quận N ngày 11/12/2019 và Tờ di chúc điều thể hiện cha của ông là ông Trần Văn T2. Do đó, ông Trần Văn T4 và ông Trần Văn T2 là một người.
Lúc sinh thời cha mẹ ông có tạo lập được tài sản là một phần đất tọa lạc tại tổ E, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, tổng diện tích là 2.981,10m², thửa 52 - 65, tờ bản đồ số 40 từ năm 1980 đến nay. Sau đó, ông T2, bà C đã tách thửa chuyển nhượng cũng như tặng cho 04 anh chị ruột của ông vào năm 2000, mỗi người được một nền đất vườn. Ngoài ra, cha mẹ ông cũng đã xây dựng nhà trên đất, mua sắm trang thiết bị nội thất trong nhà đầy đủ cho 04 anh chị của ông và tặng cho riêng sổ tiết kiệm. Trước khi chết cha mẹ ông có viết tờ di chúc ngôn (di nguyện) để lại tài sản cho các con, mặc dù không có chính quyền địa phương xác nhận nhưng cha ông đã photo gửi cho mỗi anh chị em ông một bản và ông đang giữ bản gốc có chữ ký của cha mẹ và 05 anh chị em ông. Do ông là con út, sinh sống với cha mẹ từ nhỏ nên khi ông T2, bà C lâm bệnh đột ngột qua đời chưa kịp làm hợp đồng tặng cho ông, di sản thừa kế gồm: 474m² đất vườn và 63,67m² thổ cư, trên đất có một căn nhà cấp 4 và bốn căn trọ cho thuê.
Sau khi cha mẹ chết, ông đã đề nghị các anh chị cung cấp giấy tờ để ông làm hồ sơ thừa kế toàn bộ nhà đất với sự chứng kiến của 03 người dì ruột nhưng các anh chị ông không thực hiện vì có mâu thuẫn đối với bốn phòng trọ. Trước khi chết mẹ ông đã có di nguyện chia thêm cho 02 cháu nội là con trai ông Trần Hoàng Lê M và con gái ông Trần Hoàng Lê G. Ông đã chấp nhận theo di nguyện của bà C, từ sau khi bà chết, hai người cháu của ông vẫn nhận số tiền thu trọ hàng tháng và ông cũng đã yêu cầu anh chị cung cấp giấy tờ để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế nhưng vẫn không thực hiện. Anh ruột thứ 4 của ông là ông Trần Hoàng Lê G đã không theo di nguyện cha ông khi đã tự ý bán nhà đi nơi khác nhưng vẫn quay lại thu tiền trọ hàng tháng. Do ông không đồng ý nên các bên có lời qua tiếng lại và ông Trần Hoàng Lê G đã có hành vi đập phá, chửi ông nhiều lần, có sự chứng kiến của hàng xóm láng giềng.
Bốn căn trọ được xây dựng vào năm 2008 (sau khi lập tờ di chúc) có giấy phép kinh doanh, thuộc quyền sở hữu của ông. Theo di nguyện của ông T2, bà C là để ông kinh doanh có tiền thờ phụng nhang đèn, làm giỗ suốt đời, hơn nữa ông bị thương tật cánh tay, thất nghiệp, không có nguồn thu nhập nào khác. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận bản di chúc do ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 18/02/2000, công nhận cho ông di sản thừa kế gồm:
- + Quyền sử dụng đất diện tích 474,53m² (đất vườn), thửa 65, tờ bản đồ số 40, trên đất có bốn phòng trọ xây dựng năm 2008, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 893627 (Số vào sổ cấp GCN: 02205.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho hộ bà Lê Thị C ngày 10/4/2001.
- + Quyền sử dụng đất diện tích 63,67m² (đất ở), thửa 92, tờ bản đồ số 40 và căn nhà gắn liền với đất tọa lạc tại số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401140828 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho bà Lê Thị C, ông Trần Văn T2 ngày 16/4/2001.
- Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án các bị đơn bà Trần Hoàng Mộng L, ông Trần Hoàng Lê G, bà Trần Hoàng Mộng Đ, anh Trần Lê Minh Q cùng trình bày: Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về thông tin ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C cũng như những người thuộc hàng thừa kế. Theo tờ di chúc ngôn của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C mà bị đơn lưu giữ có cung cấp cho Tòa án chỉ soạn thảo sơ bộ, chưa chính thức và ông T2, bà C cũng không có ký tên, hơn nữa các chị em gồm: Trần Hoàng Lê M, Trần Hoàng Mộng L, Trần Hoàng Lê G và Trần Hoàng Mộng Đ không biết. Đồng thời, ông T2, bà C cũng chưa từng công bố, các anh em chưa từng ký tên vào Tờ di chúc ngôn này. Tuy nhiên, theo Tờ di chúc ngôn do nguyên đơn cung cấp lại có đầy đủ chữ ký của các anh chị em là không đúng, các bị đơn không thừa nhận chữ ký của mình.
Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp ngày 16/04/2001 cho ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02205 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp ngày 10/04/2001 cho hộ bà Lê Thị C nên sau khi cha mẹ chết tất cả những người trong hộ do Công an quận N xác nhận ngày 11/12/2019 được hưởng thừa kế do ông T2 và bà C để lại.
Căn nhà số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ hiện do vợ chồng ông Trần Hoàng Lê D cùng 03 người con sinh sống, sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ. Ngoài ra, trên phần đất này có xây dựng bốn phòng trọ vào năm 2010, theo di nguyện của bà Lê Thị C chia cho ông Trần Hoàng Lê G và cháu nội Trần Lê Thanh T1 01 phòng trọ vì ông thất nghiệp, vợ mất, con còn nhỏ. Hai người cháu nội mất cha là Trần Thị Diễm T, Trần Lê Minh Q 01 phòng trọ để cho thuê sinh sống. Do các anh chị em có mâu thuẫn cãi nhau nên ông D không công nhận đó là nhà thờ cúng của cha mẹ để lại nên yêu cầu các anh chị em khác chuyển tên quyền sử dụng đất và có ý định chuyển nhượng. Các anh chị em đều không đồng ý chuyển tên cho ông D, vì đây là nhà thờ cúng ông bà cha mẹ, ông D và các con của ông có quyền được ở mà không được chuyển nhượng, cầm cố cho người khác.
Đối với phần đất ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C cho tiền ông D nhận chuyển nhượng 30.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn B, trên đất có xây dựng 03 phòng trọ. Ông Trần Hoàng Lê D đã chuyển nhượng và đã thừa hưởng phần di sản như các anh chị em trong gia đình. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng Lê D các bị đơn không đồng ý, chỉ thống nhất làm nhà thờ cúng ông bà cha mẹ mà không được chuyển nhượng, cầm cố.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 261/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hoàng Lê D.
- Công nhận di chúc do ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 18/02/2000 và ngày 20/12/2017 là di chúc hợp pháp.
- Phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C để lại theo di chúc như sau:
- + Ông Trần Hoàng Lê D được nhận quyền sử dụng đất diện tích 441m² tại các vị trí (A), (B), (C); Anh Trần Lê Minh Q được nhận quyền sử dụng đất diện tích 15,4m² tại vị trí (E); Em Trần Lê Thanh T1 có người giám hộ là ông Trần Hoàng Lê G được nhận quyền sử dụng đất diện tích 15,2m² tại vị trí (D), thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 40, theo Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 893627 (Số vào sổ cấp GCN: 02205.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho hộ bà Lê Thị C ngày 10/4/2001.
- + Ông Trần Hoàng Lê D, anh Trần Lê Minh Q và em Trần Lê Thanh T1 đồng quyền sử dụng đất, được cấp chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo diện tích cụ thể nêu trên.
- + Ông Trần Hoàng Lê D được nhận quyền sử dụng đất diện tích 63,7m², thuộc thửa 92, tờ bản đồ số 40 và nhà ở gắn liền với đất tọa lạc tại số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401140828 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho bà Lê Thị C, ông Trần Văn T2 ngày 16/4/2001.
Ông Trần Hoàng Lê D, anh Trần Lê Minh Q và người giám hộ của em Trần Lê Thanh T1 được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký sang tên, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
(Đính kèm Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu không công nhận đối với di chúc của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập năm 2017. Đồng thời, công nhận cho ông di sản thừa kế gồm:
- + Căn nhà tọa lạc tại số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ và quyền sử dụng đất diện tích 63,67m² (đất ở), thuộc thửa 92, tờ bản đồ số 40, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401140828 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho bà Lê Thị C, ông Trần Văn T2 ngày 16/4/2001.
- + 04 phòng trọ và quyền sử dụng đất diện tích 474,53m² (đất vườn), thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 40, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 893627 (Số vào sổ cấp GCN: 02205.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho hộ bà Lê Thị C ngày 10/4/2001.
- Bị đơn ông Trần Hoàng Lê G trình bày: Yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 20/12/2017, công nhận cho Trần Lê Minh Q và Trần Lê Thanh T1 02 phòng trọ phía sau. Đồng ý cho nguyên đơn được thừa kế phần nhà ở và quyền sử dụng đất còn lại của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C.
- Bị đơn bà Trần Hoàng Mộng Đ trình bày: Yêu cầu chia 02 phòng trọ cho Trần Lê Minh Q và Trần Lê Thanh T1 theo di chúc của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 20/12/2017. Phần nhà đất còn lại của cha mẹ đồng ý để nguyên đơn ông Trần Hoàng Lê D sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chỉ được ở, không được quyền chuyển nhượng, cầm cố.
- Bị đơn anh Trần Lê Minh Q trình bày: Yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 20/12/2017, công nhận cho ông và em Trần Lê Thanh T1 02 phòng trọ phía sau. Đồng ý cho nguyên đơn được thừa kế phần nhà ở và quyền sử dụng đất còn lại của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày: Yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 20/12/2017, công nhận cho Trần Lê Minh Q và Trần Lê Thanh T1 02 phòng trọ phía sau. Đồng ý cho nguyên đơn được thừa kế phần nhà ở và quyền sử dụng đất còn lại của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện các đương sự trong vụ án đều thống nhất về cha mẹ, hàng thừa kế thứ nhất và di sản, yêu cầu công nhận di chúc ngày 18/02/2000 của ông Trần Văn T5 và bà Lê Thị C là hợp pháp và công nhận theo di chúc. Nguyên đơn chỉ không thống cùng đứng tên đồng sở hữu đối với quyền sử dụng đất diện tích 471,6m, thửa 65, tờ bản đồ số 40, theo Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C như sau:
- + Anh Trần Lê Minh Q được nhận 01 phần quyền sử dụng đất diện tích 15,4m2 tại vị trí (E).
- + Em Trần Lê Thanh T1 được nhận 01 phần quyền sử dụng đất diện tích 15,2m2 tại vị trí (D).
- + Ông Trần Hoàng Lê D được nhận phần quyền sử dụng đất còn lại của thửa 65 với diện tích 441m2 tại các vị trí (A), (B), (C). Ông yêu cầu tách riêng từng phần. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 220 Luật Đất đai năm 2024 và điểm a khoản 3 Điều 3 Quyết định số: 20/2024/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C thì diện tích anh Trần Lê Minh Q và em Trần Lê Thanh T1 không đủ điều kiện tách thửa theo quy định "Diện tích tối thiếu được tách thửa để hình thành thửa đất mới và diện tích còn lại của thửa đất sau khi tách phải lớn hơn hoặc bằng 150m²". Như vậy, diện tích của ông Q và cháu T1 không đủ điều kiện nên cần phải công nhận đồng sở hữu chung với nguyên đơn. Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn không đồng ý đứng tên đồng sở hữu là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với kháng cáo xin giảm tiền án phí dân sự sơ thẩm buộc nguyên đơn phải nộp là 96.840.000 đồng là đúng với kỷ phần mà nguyên đơn được hưởng và nguyên đơn không thuộc trường hợp miễn giảm án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 261/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, theo hướng không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng Lê D. Phần án phí và chi phí thẩm định: Các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Trần Hoàng Lê D khởi kiện yêu cầu công nhận bản di chúc do ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 18/02/2000 và công nhận di sản thừa kế do ông T2, bà C để lại cho ông theo di chúc nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp di sản thừa kế” là phù hợp.
[2] Về thời hiệu khởi kiện và người thừa kế: Các đương sự đều khai thống nhất ông Trần Văn T2 tên gọi khác là Trần Văn T4, sinh năm 1930 (chết năm 2018) và bà Lê Thị C, sinh năm 1934 (chết năm 2020). Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 tính đến ngày nguyên đơn có đơn khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
[3] Về người thừa kế: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai nhận của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng có cơ sở xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn T2 và bà Lê Thị C bao gồm 05 người con chung là ông Trần Hoàng Lê M, bà Trần Hoàng Mộng L ông Trần Hoàng Lê G, bà Trần Hoàng Mộng Đ và ông Trần Hoàng Lê D.
[4] Về di sản thừa kế: tại phiên tòa cũng như lời khai nhận của các đương sự trong vụ án đều xác định trong quá trình chung sống ông T2, bà C tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng có tổng diện tích 2.981,10m², thửa số 52-65, tờ bản đồ số 40. Sau khi tách thửa chuyển nhượng, tặng cho các con một phần, ông T2, bà C còn lại các quyền sử dụng đất như sau:
- + Quyền sử dụng đất diện tích 474,53m² (đất vườn), thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 40, trên đất có 04 căn nhà trọ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 893627 (Số vào sổ cấp GCN: 02205.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho hộ bà Lê Thị C ngày 10/4/2001.
- + Quyền sử dụng đất diện tích 63,67m², thửa 92, tờ bản đồ số 40 và căn nhà gắn liền với đất tọa lạc tại số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401140828 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho bà Lê Thị C, ông Trần Văn T2 ngày 16/4/2001.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc cho rằng “Tờ di chúc” lập ngày 20/12/2017 (bút lục 75) của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C với nội dung để lại 03 phòng nhà trọ cho cháu nội tên Trần Quốc B1, dãy 04 phòng trọ để lại phòng 01 và 02 cho Trần Hoàng Lê D mục đích thờ cúng ông bà, cha mẹ, phòng số 03 cho Trần Lê Thanh T1 và phòng số 04 cho Trần Lê Minh Q là không có giá trị pháp lý do Tờ di chúc này không được ông T2, bà C công bố khi còn sống và sau đó bà C có thay đổi di chúc cụ thể bà C nói với nguyên đơn để lại toàn bộ cho nguyên đơn, không cho T1 và Q nhưng bà C không lập bằng văn bản. Nhận thấy, nguyên đơn thừa nhận chữ viết trong toàn bộ di chúc lập ngày 20/12/2017 là của bà Lê Thị C và chữ ký, chữ viết cuối di chúc là của ông T2, bà C, toàn bộ nội dung của di chúc là phù hợp với các Điều 627, Điều 630, Điều 631, Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Tờ di chúc này không được đánh số thứ tự ở mỗi trang cũng như không có chữ ký hoặc điểm chỉ của ông T2, bà C ở từng trang là vi phạm khoản 3 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng nội dung di chúc là phù hợp với ý chí của ông T2, bà C khi còn sống nên cấp sơ thẩm công nhận là phù hợp. Ngoài ra, diện tích 441m² nguyên đơn yêu cầu tách riêng từng phần là không phù hợp theo điểm c khoản 2 Điều 220 Luật Đất đai năm 2024 và điểm a khoản 3 Điều 3 Quyết định số: 20/2024/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C. Đối với yêu cầu kháng cáo về tiền án phí thấy rằng cấp sơ thẩm đã xác định nguyên đơn phải chịu án phí là phù hợp với Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ ở chấp nhận.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Hoàng Lê D.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hoàng Lê D.
- - Công nhận di chúc do ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C lập ngày 18/02/2000 và ngày 20/12/2017 là di chúc hợp pháp.
- - Phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T2, bà Lê Thị C để lại theo di chúc như sau:
- + Ông Trần Hoàng Lê D được nhận quyền sử dụng đất diện tích 441m² tại các vị trí (A), (B), (C); Anh Trần Lê Minh Q được nhận quyền sử dụng đất diện tích 15,4m² tại vị trí (E); Em Trần Lê Thanh T1 có người giám hộ là ông Trần Hoàng Lê G được nhận quyền sử dụng đất diện tích 15,2m² tại vị trí (D), thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 40, theo Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 893627 (Số vào sổ cấp GCN: 02205.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho hộ bà Lê Thị C ngày 10/4/2001.
- + Ông Trần Hoàng Lê D, anh Trần Lê Minh Q và em Trần Lê Thanh T1 đồng quyền sử dụng đất, được cấp chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo diện tích cụ thể nêu trên.
- + Ông Trần Hoàng Lê D được nhận quyền sử dụng đất diện tích 63,7m², thuộc thửa 92, tờ bản đồ số 40 và nhà ở gắn liền với đất tọa lạc tại số C, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5401140828 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp cho bà Lê Thị C, ông Trần Văn T2 ngày 16/4/2001.
Ông Trần Hoàng Lê D, anh Trần Lê Minh Q và người giám hộ của em Trần Lê Thanh T1 được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký sang tên, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
(Đính kèm Bản trích đo địa chính số: 560/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ông Trần Hoàng Lê D phải chịu 8.644.700 đồng (Tám triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn, bảy trăm đồng); Anh Trần Lê Minh Q phải chịu 205.500 đồng (Hai trăm lẽ năm nghìn, năm trăm đồng); Em Trần Lê Thanh T1 phải chịu 202.800 đồng (Hai trăm lẽ hai nghìn, tám trăm đồng). Do ông Trần Hoàng Lê D đã nộp tạm ứng và chi xong nên anh Q, em T1 có nghĩa vụ trả lại ông D số tiền phải nộp.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Trần Hoàng Lê D phải chịu 96.840.000 đồng (Chín mười sáu triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng), được khấu trừ 36.000.000 đồng tiền tạm ứng án đã nộp theo Biên lai thu số 0001244 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Hoàng Lê D có nghĩa vụ nộp thêm số tiền 60.840.000 đồng (Sáu mươi triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Anh Trần Lê Minh Q phải chịu 3.850.000 đồng (Ba triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Em Trần Lê Thanh T1 được miễn toàn bộ tiền án phí phải nộp.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001981 ngày 23/09/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tuyết Mai |
Bản án số 130/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 130/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
