|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2025/DS-PT Ngày: 04 - 03 - 2025 V/v Tranh chấp chia thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Vũ Toàn Giang |
| Ông Chu Tuấn Anh |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 495/2023TLPT-DS ngày 20/11/2023 về việc "Tranh chấp chia thừa kế ".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 285/2024/QĐ-PT ngày 04/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc O, sinh năm 1972; Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà C, ngõ B phố T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O: Luật sư Chu Văn T, Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: B Khu đô thị M, phường P, quận H. Có mặt.
Bị đơn:
-
Ông Trương Tiến D, sinh năm 1962; Có mặt.
Địa chỉ: Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D: Luật sư Mai Bích N, Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ liên hệ: P2504, CT6B K, phường X, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
-
Ông Trương Tiến A, sinh năm 1975 (chết ngày 05/3/2021).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trương Tiến A gồm:
- Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1975 (vợ ông Trương Tiến A). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V: Luật sư Hà Phước H và luật sư Trần Kim H1, Công ty L4, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số A L, quận T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Chị Trương Thu P, sinh năm 2001 (con ông Trương Tiến A). Có mặt.
- Chị Trương Hải K, sinh năm 2003 (con ông Trương Tiến A). Có mặt.
- Anh Trương Quốc V1, sinh ngày 09/8/2004 (con ông Trương Tiến A). Có mặt.
- Cháu Trương Thùy L, sinh ngày 05/8/2010 (con ông Trương Tiến A). Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số H, ngách A, Đội 6, Xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1975 (vợ ông Trương Tiến A). Có mặt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị T1, sinh năm: 19/11/1965. Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà B, Ngõ B, đường A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bà Trương Thị Kim T2, sinh năm: 1969. Có mặt.
Địa chỉ: Nhà số B, ngách H, xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội.
- Bà Trương Thị Thúy N1, sinh năm: 1981. Vắng mặt.
Địa chỉ: Đ, xóm Đ, Thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1975. Có mặt.
- Chị Trương Thu P, sinh năm: 2001. Có mặt.
- Chị Trương Hải K, sinh ngày 08/5/2003. Có mặt.
- Anh Trương Quốc V1, sinh ngày 9/8/2004. Có mặt.
- Cháu Trương Thùy L, sinh ngày 05/8/2010.
Người đại diện hợp pháp của cháu L: Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1975. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Số H, ngách A, Đội 6, Xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1972. Có mặt.
- Cháu Trương Gia P1, sinh ngày 20/9/2010.
Người đại diện hợp pháp của cháu P1: Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1972 và ông Trương Tiến D, sinh năm 1962. Cùng địa chỉ: Số nhà H, ngách A, Đội 6, xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T3: Luật sư Mai Bích N, Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ liên hệ: P2504, CT6B K, phường X, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Trụ sở: xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Ngọc Q; Chức vụ: Chủ tịch
Người diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T4; Chức vụ: Công chức địa chính. Vắng mặt.
- Văn phòng C3.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Hữu D1, Chức vụ: Trưởng văn phòng. Vắng mặt.
Địa chỉ: L khu T, Hà Nội.
Do có kháng cáo của bị đơn là ông Trương Tiến D và kháng cáo của của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2019 cùng các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc O trình bày:
Bố bà là cụ Trương Văn C (chết năm 2005), mẹ bà là cụ Hoàng Thị Ổ (chết năm 2002). Cụ C, cụ Ồ sinh được 6 người con gồm các ông bà sau: Trương Tiến D sinh năm 1962, Trương Thị T1 sinh năm 1965, Trương Thị Kim T2 sinh năm 1969, Trương Tiến A sinh năm 1975 (chết ngày 05/3/2021), Trương Thị Thúy N1 sinh năm 1981 và bà là Trương Thị Ngọc O. Ngoài ra, cụ C, cụ Ô không có con riêng, con nuôi nào khác.
Bố mẹ bà khi chết đi để lại 02 khối di sản thừa kế: Thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03, diện tích 407m² và thửa số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích 162m² có địa chỉ tại xã T, huyện T, Hà Nội, đã được UBND xã T, huyện T, Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A174518, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 0349.QSDĐ/18/09 cấp ngày 22/8/2021 cho bà Hoàng Thị Ổ.
Năm 1995, vì điều kiện kinh tế gia đình, bố mẹ bà đã chuyển nhượng diện tích đất 120m² trong tổng số diện tích đất 407m² thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 3 cho người khác. Như vậy, tổng diện tích đất thuộc khối di sản của bố mẹ bà là 449m². Ngoài ra còn có 01 (đất ao) thuộc thửa số 181 tờ bản đồ số 23 diện tích 179m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 10/4/2023 bà Trương Thị Ngọc O có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về diện tích thửa đất số 181, tờ bản đồ số 23, diện tích 179m² tại thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Bố mẹ bà qua đời đã lâu, ông Trương Tiến A và ông Trương Tiến D hiện đang sinh sống trên phần di sản do bố mẹ bà để lại tại thửa đất số 134. Gia đình bà đã nhiều lần họp xong không thể tự thỏa thuận việc chia thừa kế được. Nay bà và các chị em Trương Thị T1, chị Trương Thị Kim T2, Trương Thị Thúy N1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
-
* Bị đơn:
- Ông Trương Tiến D trình bày: Bố ông là cụ Trương Văn C mất năm 2005, mẹ ông là cụ Hoàng Thị Ô mất năm 2002. Bố mẹ ông sinh được 6 người con gồm: ông Trương Tiến D, Trương Tiến A, Trương Thị T1, Trương Thị Kim T2, Trương Thị Ngọc O và Trương Thị Thúy N1. Ngoài những người con trên bố mẹ ông không có con riêng, con nuôi nào khác. Di sản của bố mẹ ông để lại gồm thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03, diện tích còn lại 287m², thửa đất số 134 tờ bản đồ số 03 là diện tích 162m² và thửa đất số 181 tờ bản đồ số 23 là đất ao đều có địa chỉ tại thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Khi bố mẹ ông mất đi không để lại di chúc. Nay bà O có đơn xin chia thừa kế là di sản của bố mẹ ông để lại, ông có ý kiến như sau : Đối với thửa đất số 134, hiện nay gia đình ông và gia đình ông Trương Tiến A đang ăn ở nên đề nghị Tòa án chia cho anh em ông ở chỗ đó. Còn đối với thửa 258 thì chia đều cho các đồng thừa kế. Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi cho gia đình ông.
- Ông Trương Tiến A trình bày: Do ông bị bệnh tay yếu không viết được nên ông nhờ con gái ông là Trương Hải K viết cho ông bản tự khai: Bố ông là cụ Trương Văn C (chết năm 2005), mẹ ông là cụ Hoàng Thị Ô (chết năm 2002). Bố mẹ ông sinh được 06 người con: Trương Tiến D, Trương Thị T1, Trương Thị Kim T2, Trương Thị Ngọc O, ông Trương Tiến A và Trương Thị Thúy N1. Khi bố mẹ ông chết không để lại di chúc, sau khi bố mẹ ông chết có để lại 03 mảnh đất: Thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03, diện tích 407m²; Thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích 162m²; Thửa đất số 181, tờ bản đồ số 23, khoảng 179m². Khi bố mẹ ông còn sống, ông thay bố mẹ ông trông nom, quản lý 3 thửa đất này. Năm 1991, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03, diện tích 407m² và thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03 diện tích 162m² có địa chỉ tại xã T, T, Hà Nội cấp ngày 22/8/1991 cho cụ Hoàng Thị Ổ. Năm 2018, ông Trương Tiến D đã xây nhà cấp 4 diện tích khoảng 81m², trên thửa đất số 134. Năm 2019, gia đình ông đã xây nhà 3 tầng diện tích khoảng 81m², tại thửa số 134, gia đình ông đã ăn ở ổn định tại đây. Đối với phần đất ao, năm 2002 vợ chồng ông đã đổ đất hết khoảng 50m³ đất hiện nay gia đình ông trồng màu trên đất. Nay bà O có đơn xin chia thừa kế đối với 3 thửa đất trên, ông đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi cho ông. Đối với 1 phần thửa đất 134, tờ bản đồ số 03, tổng diện tích 162m², gia đình ông đã xây nhà trên diện tích đất khoảng 81m², gia đình ông hiện đã ăn ở ổn định trên thửa đất này, cũng là nơi thờ cúng các cụ tổ tiên. Do đó ông xin được hưởng phần đất này. Đối với thửa 134 và thửa số 181 hiện nay ông và ông Trương Tiến D đang quản lý sử dụng thì giữ nguyên, còn thửa 258 ông đồng ý chia đều cho các đồng thừa kế.
-
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
- Bà Trương Thị T1 trình bày: về quan hệ gia đình, bà nhất trí như bà O, ông D và ông Tiến A trình bày. Ngoài những người con trên bố mẹ bà không có con riêng, con ngoài giá thú. Di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại gồm có thửa đất số 258 tờ bản đồ số 03 diện tích khoảng 287m² và thửa đất số 134 tờ bản đồ số 03 có diện tích 162m², hai mảnh đất này đều có địa chỉ tại thôn Y, xã T, T, Hà Nội. Nay bà O xin chia thừa kế, bà có ý kiến đối với thửa đất số 134 có diện tích 162m² chia cho ông Trương Tiến D và ông Trương Tiến A mỗi người 1/2 diện tích đất. Còn thửa số 258 tờ bản đồ số 03, diện tích 287m² bà yêu cầu chia cho 04 bà con gái là Trương Thị T1 (là bà), Trương Thị Kim T2, Trương Thị Ngọc O, Trương Thị Thúy N1.
- Bà Trương Thị Kim T2 trình bày: Bà nhất trí với trình bày của các anh chị em bà về quan hệ gia đình và di sản thừa kế. Nay bà O kiện chia thừa kế di sản của bố mẹ bà để lại, bà có ý kiến trước khi bố mẹ bà mất không để lại di chúc, đối với thửa đất số 134 có diện tích 162m², hiện nay gia đình ông Trương Tiến A và ông Trương Tiến D đã xây dựng kiên cố và ổn định, bà yêu cầu Tòa án chia cho Trương Tiến A 1/2 và Trương Tiến D 1/2 thửa đất số 134. Còn thửa số 258, tờ bản đồ số 03 chia cho 4 bà con gái còn lại.
- Bà Trương Thị Thúy N1 trình bày: Bà nhất trí với trình bày của các anh chị em bà về quan hệ huyết thống và di sản thừa kế. Nay bà O xin chia di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Cháu Trương Thu P trình bày: cháu là con đẻ của ông Trương Tiến A và bà Đoàn Thị V. Cháu là người ở trên thửa đất số 134 tờ bản đồ số 03 có địa chỉ tại Đội 6, xóm G, Y, T, T, Hà Nội là di sản thừa kế của cụ C và cụ Ô để lại. Trước đây khi cụ C và cụ Ỗ còn sống đã giao cho bố mẹ cháu quản lý, sử dụng, tháng 8 năm 2019, bố mẹ cháu đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng và 01 tum, diện tích khoảng 81m². Tiền xây dựng nhà là do bố mẹ cháu bỏ ra, gia đình cháu đã ở ổn định trên thửa đất này. Nay bà O xin chia thừa kế là di sản của cụ C và cụ Ô để lại trong đó có phần đất gia đình cháu đang quản lý, sử dụng. Cháu đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà O cũng như ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác. Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi của bố mẹ cháu, cũng như cháu là người ở trên đất.
- Văn phòng C3 có ý kiến: Ngày 03/6/2011, Văn phòng C4, Hà Nội có tiếp nhận yêu cầu công chứng về việc phân chia di sản thừa kế của gia đình ông Trương Tiến A đối với di sản thừa kế do bà Hoàng Thị Ổ và chồng là Trương Văn C để lại. Di sản thừa kế là quyền sử dụng 02 thửa đất số 258 và số 134, tờ bản đồ số 03, tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A174518, số vào sổ cấp GCN: 0349.QSDĐ/18/09 do UBND huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 22/8/1991, tại địa chỉ: xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau khi tiến hành niêm yết thông báo di sản thừa kế theo quy định, ngày 08/12/2011, tại văn phòng C4, thành phố Hà Nội (nay là văn phòng C3) đã tiến hành công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của những người phân chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ô và cụ Trương Văn C. Những người phân chia di sản thừa kế bao gồm: ông Trương Tiến D, ông Trương Tiến A, bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Ngọc O, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Thúy N1 đã tự đọc, nghe đọc và được giải thích rõ nội dung và hậu quả pháp lý của văn bản. Công chứng viên thực hiện đúng quy trình, quy định công chứng đối với việc phân chia di sản thừa kế theo đề nghị của người phân chia di sản, phát hành văn bản công chứng, kế đó gửi cho những người tham gia giao dịch bản chính của văn bản thỏa thuận để họ thực hiện các thủ tục tiếp theo, theo quy định. Khi công chứng văn bản thỏa thuận này, công chứng viên tuân thủ đầy đủ các quá trình nghiên cứu yêu cầu công chứng, kiểm tra bản gốc các giấy tờ cần thiết. Những người giao dịch đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tại thời điểm đó đều đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
- UBND xã T, T, Hà Nội trình bày quan điểm: Đối với vụ án chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03 diện tích 162m² và thửa đất số 258 tờ bản đồ số 03 diện tích là 287m² do bà Hoàng Thị Ô đã chết để lại, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc O trình bày: rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần đất ao có diện tích 179m², thửa đất số 181 tờ bản đồ số 23, các yêu cầu khởi kiện khác vẫn giữ nguyên.
- - Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh T3 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chia theo pháp luật và được chia hưởng tại thửa 258 nơi có căn nhà cấp 4 diện tích 39m² là nơi ăn ở, kiếm sống của bà T3, ông D. Đối với thửa 134, ông D đã xây nhà cấp 4 là nơi thờ phụng tổ tiên vì ông D là con trưởng và cũng là trưởng Chi, đề nghị Hội đồng xét xử chia theo kỷ phần tại đó và tạm giao cho ông D quản lý để làm nơi thờ phụng.
- - Bà Đoàn Thị V trình bày: Chồng tôi là ông Trương Tiến A đã chết, tôi và các con tôi là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trương Tiến A. Từ khi chồng tôi chết, tôi phải nuôi 4 con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử chia cho mẹ con tôi tại vị trí ngôi nhà 3 tầng 1 tum, diện tích 81m² thuộc thửa đất số 134 tờ bản đồ 03 và thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 tại vị trí có căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 40m² mà hiện nay tôi đang sử dụng, chia cho tôi phần diện tích đất ao là 179m², thửa đất số 181, tờ bản đồ số 23 tại Thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội.
- - Chị Trương Hải K có ý kiến: Đề nghị hội đồng xét xử chia thừa kế di sản của ông bà nội chị theo quy định của pháp luật.
- · Bà Trương Thị T1 và bà Trương Thị Kim T2 cùng nhất trí: Đề nghị Tòa án chia thừa kế di sản của bố mẹ các bà theo quy định của pháp luật.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đoàn Thị V trình bày luận cứ và đề nghị HĐXX xem xét giải quyết: Cụ Ô và cụ C có 06 người con, ông Trương Tiến A đã chết năm 2021. Di sản thừa kế của cụ Ô và cụ C để là là thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03, diện tích 407m² (đã bán 120m²), còn lại 287m² và thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích sử dụng 162m² có địa chỉ tại Xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Ngoài ra, còn mảnh đất ao khoảng 179m², tờ bản đồ số 23, đề nghị Hội đồng xét xử dừng phiên tòa để xác minh nguồn gốc của mảnh đất ao. Đề nghị Hội đồng xét xử chia cho ông Trương Tiến A phần diện tích đất 81m² tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 3 và chia cho ông Trương Tiến A từ 40 đến 45m² đất tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 tại vị trí nhà cấp 4 mà hiện nay đang sử dụng. Phần còn lại của thửa đất 258 chia đều cho các con gái của cụ C và cụ Ổ.
- - Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị Thanh T3 trình bày bản luận cứ và đề nghị HĐXX : phân chia di sản thừa kế của cụ Trương Văn C và cụ Hoàng Thị Ổ theo quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế. Phân chia cho ông Trương Tiến D kỷ phần là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 258 tờ bản đồ số 03, địa chỉ tại Xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội bao gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu căn nhà cấp 4 diện tích 32,9m² mà vợ chồng ông D và bà T3 đã xây dựng năm 2000 và hiện nay đang quản lý và sử dụng cho đến đủ phần diện tích quyền sử dụng đất theo kỷ phần mà ông Trương Tiến D được hưởng tại thửa đất này. Phân chia cho ông Trương Tiến D kỷ phần là quyền sử dụng đất tại thửa số 134, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ Xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội tại vị trí căn nhà cấp 4 ông D đã xây dùng làm nơi đặt Linh C1 Thờ Tự Gia tộc họ T5 và tạm giao cho ông D quản lý để thờ phụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 12 /7/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ngọc O về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ô và cụ Trương Văn C. Xác định diện tích đất ở 407m² (đã bán 120m²) nay còn lại là 287m² tại thửa 258, tờ bản đồ số 03, diện tích 162m² thửa đất 134, tờ bản đồ số 03 tại thôn Y, T, T, Hà Nội là di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ổ và cụ Trương Văn C.
- Chia di sản thừa kế như sau :
- Chia cho ông Trương Tiến D được sử dụng diện tích 81m² đất ở tại thửa số 134, tờ bản đồ số 3 tại xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội (có sơ đồ kèm theo) cụ thể: Giới hạn bởi các điểm 4,5,6,7,8,9,4.
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 4 đến điểm 5) tiếp giáp với ngách 123/43 dài 2.89m
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 5 đến điểm 6) tiếp giáp với ngách 123/43 dài 1.80m
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 6 đến điểm 7), chạy theo mép ngoài tường, giáp với hộ ông N4 dài 5.74m
- + Hướng Tây B (từ điểm 7 đến điểm 8) ; chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ ông N4 dài 10.91m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 8 đến điểm 9, chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ ông C2 dài 4.67m).
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 9 đến điểm 4), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích đất của bà Đoàn Thị V và các con dài 16.89m.
- Chia cho ông Trương Tiến A (đã chết) những người kế thừa quyền và nghĩa vụ là bà Đoàn Thị V và các con là chị Trương Thu P, chị Trương Hải K, anh Trương Quốc V1 và cháu Trương Thùy L được sử dụng diện tích 81m² đất ở tại thửa số 134, tờ bản đồ số 3 tại xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội (có sơ đồ kèm theo) cụ thể : Giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,9,1
- + Hướng Đông Bắc (từ điểm 1 đến điểm 2), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới với ngách 87/46/12 dài 12.02m
- + Hướng Đông Nam (từ điểm 2 đến điểm 3), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới với ngách 87/46/12 dài 4.87m.
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 3 đến điểm 4), chạy theo mép tường ngoài, ranh giới giáp ngách 123/43 dài 4.93m.
- + Hướng T6 (từ điểm 4 đến điểm 9), chạy theo mép tường, ranh giới giáp với phần diện tích của ông Trương Tiến D dài 16.89m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 9 đến điểm 1), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ ông C2 dài 4.64m.
- Chia cho bà Trương Thị Ngọc O được quyền sử dụng đất diện tích 80m2 đất tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 tại xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội, giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,15,1 (có sơ đồ kèm theo)
- + Hướng Đông Bắc (từ điểm 1 đến điểm 2), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngõ 241 dài 3.51m.
- + Hướng Đông B1 (từ điểm 2 đến điểm 3); Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngõ 241 dài 3.51m.
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 3 đến điểm 4); Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ bà D2 dài 11.27m.
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 4 đến điểm 4'; Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích của và Trương Thị Kim T2 dài 2.53m.
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 4' đến điểm 4'); Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích đất của bà Trương Thị Kim T2 dài 2.53m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 4' đến điểm 15); Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích của bà Trương Thị T1 dài 4.67m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 15 đến điểm 1); Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ ông T3 dài 11.27m.
- Chia cho bà Trương Thị Thúy N1 được quyền sử dụng đất diện tích 69m² tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 tại xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Giới hạn bởi các điểm 6,7,8,9,6 (có sơ đồ kèm theo)
- + Hướng Đông Bắc (từ điểm 6 đến điểm 7), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với hộ ông L1 dài 5.49m.
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 7 đến điểm 8), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp hộ bà X dài 12.93m.
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 8 đến điểm 9), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 5.47m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 9 đến điểm 6), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích của bà Trương Thị Kim T2 dài 12.34m.
- Chia cho bà Trương Thị Kim T2 được quyền sử dụng 69m² đất tại thửa số 258, tờ bản đồ số 03 tại xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Giới hạn bởi các điểm 4', 4,5,6,10,4' (có sơ đồ kèm theo)
- + Hướng Đông Bắc (từ điểm 4' đến điểm 4), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp hộ bà Trương Thị Ngọc O dài 2.53m.
- + Hướng Đông B1 (từ điểm 4 đến điểm 5), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp hộ bà D2 dài 3.53m.
- + Hướng Đông B1 (từ điểm 5 đến điểm 6), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp hộ bà D2 dài 2.51m.
- + Hướng Đông N2 (từ điểm 6 đến điểm 9), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp hộ bà Trương Thị Thúy N1 dài 12.34m.
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 9 đến điểm 10), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 4.98m.
- + Hướng T6 (từ điểm 10 đến điểm 4'), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích của bà Trương Thị T1 dài 15.28m.
- Chia cho bà Trương Thị T1 được quyền sử dụng đất 69m² tại thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 tại xóm Đ, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội. Giới hạn bởi các điểm 4', 10,11,12,13,14,15,4' (có sơ đồ kèm theo)
- + Hướng Đông Nam (từ điểm 4' đến điểm 10). Chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với phần diện tích của bà Trương Thị Kim T2 dài 15.28m.
- + Hướng Tây N3 (từ điểm 10 đến điểm 11), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 4.65m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 11 đến điểm 12), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 1.87m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 12 đến điểm 13), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 1.78m.
- + Hướng Tây B (từ điểm 13 đến điểm 14), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với ngách 87/46/9 dài 6.81m
- + Hướng B (từ điểm 14 đến điểm 15), chạy theo mép ngoài tường, ranh giới giáp với diện tích bà Trương Thị Ngọc O.
- Chia cho ông Trương Tiến D được sử dụng diện tích 81m² đất ở tại thửa số 134, tờ bản đồ số 3 tại xóm G, thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội (có sơ đồ kèm theo) cụ thể: Giới hạn bởi các điểm 4,5,6,7,8,9,4.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 181 tờ bản đồ số 23, diện tích 179m² đất ao chưa có sổ đỏ tại thôn Y, T, T, Hà Nội.
- Buộc Bà Trương Thị Ngọc O phải thanh toán cho ông Trương Tiến D, phần công trình xây dựng nhà cấp 4 số tiền là 39.726.750 đồng, thanh toán cho gia đình bà V phần xây dựng nhà cấp 4, số tiền là 40.209.750 đồng.
- Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số A174518/QĐ-UB ngày 22/3/1991, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 0349/QSĐ 18/09 cấp cho cụ Hoàng Thị Ô để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án. Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đang do bà Đoàn Thị V quản lý.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn là ông Trương Tiến D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm chia thừa kế đối với khối di sản của hai cụ Trương Văn C và cụ bà Hoàng Thị Ô theo hướng: chia đều cả 02 thửa đất 258 và 134, tờ bản đồ số 03 cho các đồng thừa kế và phân chia cho ông D kỷ phần là quyền sử dụng đất tại vị trí đã xây dựng căn nhà cấp 4 diện tích 32,9m² tại thửa 258 mà vợ chồng ông đã sinh sống ổn định ở đó từ năm 2000 đến nay đã 23 năm vì nơi đây là nguồn sống duy nhất của gia đình ông bà.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trương Tiến A, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị V kháng cáo kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với lý do: Thứ nhất, Tòa án nhân dân huyện T xác định thiếu di sản chia thừa kế của cụ Trương Văn C và cụ Hoàng Thị Ổ khi chia thừa kế. Thứ hai, khi tiến hành chia di sản thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến phần công sức của vợ chồng ông Trương Tiến A và bà Đoàn Thị V trong việc quản lý, tôn tạo phần di sản thừa kế của cụ C, cụ Ổ và công sức trong việc đóng thuế đất, trông nom mồ mả, thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ khi chia cho ông Trương Tiến A, bà Đoàn Thị V là chưa giải quyết triệt để vụ án, làm ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của gia đình ông Tiến A, bà V. Bà V yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng về thu thập, xác minh đánh giá tài liệu, chứng cứ chưa khách quan, đầy đủ, bỏ sót di sản thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự thống nhất được thời điểm mở thừa kế; hàng thừa kế, di sản của cụ Ô và cụ C; không xuất trình chứng cứ mới, không thỏa thuận với nhau được cách giải quyết vụ án.
- - Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà O trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận kháng cáo của ông D, bà V và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Bị đơn trình bày yêu cầu kháng cáo: Đề nghị sửa Bản án theo hướng xem xét công sức đóng góp của vợ chồng ông D bà T3 đồng thời đề nghị chia cho ông D diện tích đất hiện có căn nhà cấp 4 diện tích 32m² ông đang sử dụng tại thửa đất 258, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ: xã T, huyện T, Hà Nội.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có kháng cáo bà Nguyễn Thị V2 đề nghị rút một phần yêu cầu kháng cáo chia di sản thừa đối với phần đất tại thửa số 181 tờ bản đồ số 23, diện tích 179m² đất ao chưa có sổ đỏ tại thôn Y, xã T, huyện T, thành ph Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V2 trình bày luận cứ và đề nghị sửa bản án theo hướng xem xét công sức đóng góp của vợ chồng bà V2 đồng thời đề nghị chia cho bà V2, con ông Tiến A diện tích đất hiện bà đang sử dụng tại thửa đất 258, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ: xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà ông D bà T3 trình bày luận cứ và đề nghị sửa bản án theo hướng xem xét công sức đóng góp của vợ chồng ông D bà T3 dồng thời đề nghị chia cho ông D diện tích đất hiện có căn nhà cấp 4 diện tích 32m² ông đang sử dụng tại thửa đất 258, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ: xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Đối với thửa 134, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ xã T, huyện T, thành phố Hà Nội ông D đề nghị được chia phần là phần diện tích đất có đặt linh cung thờ tự Gia tộc họ Trương có diện tích 52,4m².
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án sơ thẩm 71/2023/DS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội theo hướng chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn xem xét thêm công sức của vợ chồng ông D và vợ chồng ông Tiến A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- - Ông Trương Tiến D và bà Đoàn Thị V kháng cáo đúng thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định, nên hợp lệ về mặt hình thức.
- - Về yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất ao số 181, tờ bản đồ số 03: Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/4/2023 nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc O có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế đối với diện tích thửa đất số 181, tờ bản đồ số 23, diện tích 179m² tại thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (BL153). Lý do rút theo bà O trình bày tại đơn ngày 13/6/2023 là do nguồn gốc thửa đất này trước đây của ông bà nội để lại cho các con trong đó có cụ C, nhưng thực tế chưa phận định rõ và chưa có sổ đỏ đứng tên ai nên bà giành giải quyết bằng vụ án khác, không yêu cầu trong vụ án này (BL217). Đến ngày 09/6/2023, bà Đoàn Thị V là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trương Tiến A có đơn đề nghị Tòa án bổ sung tài sản thừa kế là thửa đất ao số 181, tờ bản đồ số 23, diện tích 179m² để xem xét giải quyết trong cùng vụ án chia thừa kế nhằm giải quyết triệt để các di sản thừa kế theo quy định pháp luật (BL 310). Tại phiên tòa sơ thẩm, bà V cho biết thửa đất này là do các cụ để lại, đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất này. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm bà V rút kháng cáo về việc toà án cấp sơ thẩm không thụ lý và giải quyết yêu cầu này của bà. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đối với kháng cáo này của bà V.
- - Về thời hiệu: Cụ Hoàng Thị Ô chết năm 2002, Cụ Trương Văn C chết năm 2005 vì vậy thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn.
- - Về sự có mặt vắng mặt tại phiên toà: Tại phiên toà, có mặt nguyên đơn, bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn; người có quyền và nghĩa vụ có liên quan; người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan; một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
- [2.1] Xác định hàng thừa kế:
- [2.2] Về xem xét tính hợp pháp của di chúc:
- [2.3] Về di sản thừa kế :
- * Về việc tính công sức:
- * Về việc phân chia di sản thừa kế và giải quyết tài sản trên đất:
- * Chia bằng hiện vật:
- * Về sở hữu sử dụng tài sản trên đất:
- * Về nghĩa vụ thanh toán :
- [2.4] Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.
- [3] Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm: tính đến thời điểm thụ lý, xét xử vụ án ông Trương Tiến D trên 60 tuổi nên là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trương Thị Ngọc O, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Thúy N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Đối với bà Đoàn Thị V và các con (Trương Thu P, Trương Hải K, Trương Quốc V1 và Trương Thùy L) phải chịu 92.973.888 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên sau khi xem xét tài liệu có trong hồ sơ cũng như đơn đề nghị của gia đình bà V, Hội đồng xét xử miễn 1/2 án phí dân sự sơ thẩm cho gia đình bà V.
- - Án phí phúc thẩm: Do bản án dân sự sơ thẩm bị sửa nên các đương sự được hoàn trả án phí theo quy định.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc O chia thừa kế đối với di sản của cụ Trương Văn C và cụ Hoàng Thị Ổ, Hội đồng xét xử thấy:
Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận cụ C cụ Ô có 6 người con, ngoài ra không có con đẻ, con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ Ô đều chết trước cụ Ổ. Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ Ô gồm: cụ Trương Văn C, ông Trương Tiến D, bà Trương Thị T1, ông Trương Tiến A; bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Ngọc O và bà Trương Thị Thúy N1. Cụ Trương Văn C chết năm 2005, không để lại di chúc về tài sản. Hàng thứ nhất của cụ C là 6 người con gồm các ông bà: Trương Tiến D, Trương Thị T1, Trương Thị Kim T2, Trương Thị Ngọc O, và Trương Thị Thúy N1, Trương Tiến A (ông Trương Tiến A chết năm 2021, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A là bà Đoàn Thị V, chị Trương Thu P, chị Trương Hải K, anh Trương Quốc V1 và cháu Trương Thùy L). Cụ Hoàng Thị Ổ chết năm 2002 để lại di chúc ngày 27/11/2002 viết cho các con là: Trương Thị T1, Trương Thị Ngọc O, Trương Thị Kim T2 và Trương Thị Thúy N1.
Xem xét tính hợp pháp của bản di chúc ngày 27/11/2002 của cụ Hoàng Thị Ô viết cho các con: Trương Thị T1, Trương Thị Ngọc O, Trương Thị Kim T2 và Trương Thị Thúy N1. Người làm chứng chỉ xác nhận người lập di chúc vẫn đang minh mẫn, không bị lú lẫn. Người làm chứng không xác nhận chữ ký của người lập di chúc, không xác nhận người lập di chúc ký vào di chúc trước mặt họ. Người lập di chúc không tự viết mà là đánh máy, lập xong người lập di chúc không xác nhận là ghi đúng như như văn bản đã nghe lại, đã đọc lại, nhất trí như đã ghi. Mặc khác lúc cụ Ô mất, cụ C vẫn còn sống, tài sản mà cụ Ố viết trong di chúc vẫn là tài sản chung của cụ Ô và cụ C. Như vậy, đối chiếu với các quy định của pháp luật thì di chúc cụ Ô lập năm 2002 cho các bà Trương Thị T1, Trương Thị Ngọc O, Trương Thị Kim T2 và Trương Thị Thúy N1 là không đúng theo quy định tại Điều 634 của Bộ luật dân sự. Tại Điều 634 của Bộ luật dân sự có quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký và điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”. Ngoài ra bản di chúc của cụ Ô lập ngày 27/11/2002 không thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 624, Điều 631, Điều 632, Điều 641 của Bộ luật dân sự như nội dung di chúc. Vì tài sản chung giữa vợ chồng cụ Trương Văn C, cụ Hoàng Thị Ổ và các con tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân nhưng cụ Ô lại tự ý lấy tài sản chung của vợ chồng cụ để chia cho các con gái T1, O, T2 và N1 mà không được sự đồng ý của cụ C là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình cụ. Do vậy di chúc cụ Ỗ lập ngày 27/11/2022 là không hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định: Di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ô và cụ Trương Văn C là thửa đất số 258 và 134, tờ bản đồ số 03, tại địa chỉ: xã T, huyện T, Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 174518, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 0349.QSDĐ/18/09 do UBND huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 22/8/1991). Diện tích đất cụ thể như sau: Đất ở; Diện tích thửa đất số 258 là 407m²; Diện tích thửa đất số 134 là 162m² (đo thực tế là 162.8m²). Đối với thửa đất số 258 và số 134, tờ bản đồ số 03, các đương sự đều thống nhất, năm 1995 vì điều kiện kinh tế khó khăn, cụ Ổ và cụ C đã chuyển nhượng diện tích đất 120m² trong tổng số 407m² thuộc thửa số 258, tờ bản đồ số 03 cho người khác diện tích còn lại thực tế là 308.6m².
+ Về diện tích đất chênh lệch: Thửa đất số 258, tờ bản đồ số 3, diện tích còn lại 287m², đo thực tế là 309m² tăng lên 22m²; thửa đất số 134, tờ bản đồ số 3, diện tích 162m² đo thực tế là 162.8m². Theo xác minh tại UBND xã T cho biết diện tích tăng lên do sai số trong quá trình đo đạc, để công nhận diện tích thực tế cần phải xác minh đối với các hộ liền kề. Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh các hộ liền kề, không hỏi rõ UBND xã hiện có tranh chấp gì với các hộ liền kề không để xem xét phần diện tích chênh lệch khi chia thừa kế là xác minh thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Mặc dù, Tòa án nhận định diện tích chênh lệch do sai số đo đạc, hiện tại không tranh chấp với các thửa đất liền kề nhưng khi chia thừa kế lại chỉ giải quyết chia thừa kế theo diện tích trong bản đồ, không giải quyết phần diện tích đất chênh lệch là giải quyết chưa triệt để. Tại cấp phúc thẩm, Toà án đã tiến hành xác minh đối với diện tích tăng thêm của thửa đất số 258 được biết do sai lệch số đo đạc, từ trước đến nay UBND xã T chưa nhận được đơn thư nào liên quan đến việc tranh chấp tứ cận đối với thửa đất trên. Vì vậy cần xác định diện tích đất này nằm trong khối di sản của cụ C cụ Ô để chia cho các đồng thừa kế. Toàn bộ di sản là quyền sử dụng đất của cụ C và cụ Ô đã được Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định và định giá. Phần di sản tại thửa đất số 03 diện tích 407m² (năm 1995 đã bán 120m², diện tích còn lại đo thực tế là 309m²) gồm có: - 01 nhà cấp 4 bỏ hoang không có người ở : 81,7m² x 1.725.000đồng/1m² x 20% = 28.186.000 đồng. - 01 nhà cấp 4 do ông Trương Tiến D đang quản lý: 32.9m² x 1.725.000đồng/1m² x 70% = 39.726.750 đồng. - 01 nhà cấp 4 do ông Trương Tiến A đang quản lý sử dụng: 33.3m² x 1.725.000 đồng/1m² x 70% = 40.209.750 đồng. Phần di sản tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích thực tế đo là 164 m² được tách là 2 thửa như sau : - Thửa đất do ông Trương Tiến A đang quản lý sử dụng gồm: nhà 3 tầng, 1 tum có số đo thực tế là: 57,1m² x 5.971.000 đồng x 80% = 272.755.280 đồng. Sân lát gạch đỏ: 25.3m² x 281.000 đồng x 70% = 4.976.510 đồng. Mái lợp tôn chống nóng: 25.3 x 443.000 đồng x 80% = 8.966.320 đồng. Thửa đất do ông Trương Tiến D đang quản lý: Nhà cấp 4 có số đo thực tế là: 52.4m² x 1.725.000 đồng x 20% = 18.078.000 đồng. Phần sân láng xi măng: 30m² x 140 x 80% = 3.360.000 đồng. Mái lợp tôn chống nóng: 30m² x 443.000 đồng x 80% = 10.632.000 đồng. Các cây cối ở thửa 258, tờ bản đồ số 03 : 01 cây Hồng xiêm có giá : 741.000 đồng ; 01 cây Vối có giá 70.000 đồng; 01 cây me có giá 480.000 đồng. * Hội đồng định giá xác định đất đang tranh chấp tại: Thửa đất số 258 tờ bản đồ số 03 diện tích 407m² (cụ Ổ và cụ C đã bán 120m²) còn lại 287m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0349/DSDĐ ngày 22/8/1991 thì thửa đất này nằm ở vị trí 3. Sau khi Hội đồng định giá tham khảo các bên đương sự, cán bộ địa chính xã T, huyện T, Hà Nội. Hội đồng định giá xác định giá trị đất đang tranh chấp đối với vị trí 3 là 35.000.000 đồng/1m². 308.6 m² x 35.000.000 đồng/1m² = 10.801.000.000 đồng (Mười tỷ, tám trăm linh một triệu đồng). Thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 162m² đã được UBND huyện T, Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0349/QSDĐ18/09 cấp ngày 22/2/1991 cấp cho cụ Hoàng Thị Ổ, thửa đất này nằm ở vị trí 4 đường Y, T, T, Hà Nội. Sau khi Hội đồng định giá tham khảo các đương sự, cán bộ địa chính xã T, T, Hà Nội. Hội đồng định giá xác định đất đang tranh chấp ở vị trí 4 là: 30.000.000 đồng/1m². 162.6m² x 30.000.000 đồng/1m² = 4.920.000.000 đồng (Bốn tỷ, chín trăm hai mươi triệu đồng). Tổng di sản là 10.801.000.000 đồng + 4.878.000.000 đồng = 15.679.000.000 đồng (Mười lăm tỷ, sáu trăm bảy mươi chín triệu đồng) được chia 6 kỷ phần thừa kế sau khi tính công sức của gia đình ông D và bà V.
Cụ C chết năm 2005, cụ Ô chết năm 2002. Gia đình ông D và ông Tiến A quản lý, sử dụng di sản thừa kế của các cụ để lại là thửa số 258 tờ bản đồ số 03 từ đó cho đến nay là 19 năm, xây dựng tôn tạo nhà trên đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tính công sức là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông D, ông Tiến A. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế nhưng không xác định có tính công sức hay không, kỷ phần thừa kế của mỗi người thừa kế được hưởng cụ thể là bao nhiêu để xác định chênh lệch giữa giá trị tài sản được chia với kỷ phần thừa kế được hưởng để thanh toán. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia thừa kế theo hiện vật cho bà O 80m² đất thuộc thửa 258; bà N1, bà T2, bà T1 mỗi người 69m² thuộc thửa đất 258; ông D và ông Tiến A mỗi người 81m² thuộc thửa đất 134 và không buộc ai phải thanh toán giá trị chênh lệnh được hưởng so với kỷ phần là không đúng.
Nhận thấy: Trên thửa đất 258 có 01 nhà cấp 4 mái ngói 81.7m² bỏ hoang không có người ở giá trị 28.186.000 đồng và một số cây cối, theo các đương sự trình bày nhà này là do cụ C, cụ Ô xây dựng và ở trên đó khi còn sống nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không lấy lời khai của các đương sự về việc có yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản này hay không, quan điểm như thế nào đối với giá trị ngôi nhà này mà không giải quyết đối với tài sản này là xác định thiếu di sản thừa kế. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các đương sự xác định ngôi nhà này không còn giá trị sử dụng; không yêu cầu tính giá trị cây cối và không yêu cầu chia phần tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra, trên đất còn có nhà ở đi theo hướng Đông Bắc là nhà cấp 4 mái lợp proximăng diện tích xây khoảng 40m², nhà này hiện nay ông Trương Tiến D quản lý sử dụng, xây dựng năm 2000. Nhà cấp 4 diện tích khoảng 45m², mái lợp proximăng, nhà này do ông Trương Tiến A quản lý sử dụng, xây năm 2005. Trên thửa đất số 134, tờ bản đồ số 03, diện tích 162m², hiện tại do ông Trương Tiến D quản lý sử dụng 1/2 diện tích, trên đất có 01 nhà cấp 4, mái lợp tôn chống nóng diện tích xây dựng khoảng 81m², xây dựng năm 2018. Một phần đất do ông Trương Tiến A quản lý sử dụng hướng Đông Bắc. Trên đất có nhà 3 tầng xây dụng khoảng 60m²/1 tầng, sân trước nhà lợp tôn bán mái, sân lát gạch đỏ. Các đương sự đều thống nhất thửa đất số 134 tờ bản đồ số 3 do ông Trương Tiến A và ông Trương Tiến D đang quản lý. Một phần thửa đất số 258, tờ bản đồ số 03 là do ông Trương Tiến A và Trương Tiến D đang quản lý. Theo kết quả định định giá tổng di sản là 10.801.000.000₫ + 4.878.000.000đ = 15.679.000.000₫ : 06 kỷ phần thừa kế = 2.613.166.000 đồng (Hai tỷ, sáu trăm mười ba triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Tuy nhiên, trước khi chia thừa kế cần phải xem xét kháng cáo của ông D và bà V về việc cấp sơ thẩm chưa tính công sức đóng góp của vợ chồng ông D và vợ chồng ông Tiến A. Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự nhận thấy: gia đình ông D và ông Tiến A quản lý, sử dụng di sản thừa kế của các cụ để lại từ năm 2005 cho đến nay là 19 năm, xây dựng tôn tạo nhà trên đất nên Hội đồng xét xử xác định công sức của vợ chồng ông D = 1/4 kỷ phần thừa kế = 653.291.666 đồng và ông Tiến A, bà V = 1/4 kỷ phần thừa kế = 653.291.666 đồng. Di sản còn lại để chia là 15.679.000.000 đồng - 1.306.583.332 đồng = 14.372.416.668 đồng (Mười bốn tỷ, ba trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi tám đồng). Mỗi kỷ phần = 14.372.416.688 đồng : 6 = 2.395.402.778 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu, bốn trăm linh hai nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng) Bà V cùng các con được hưởng: 2.395.402.778 đồng + 653.291.666 đồng = 3.048.694.444 đồng (Ba tỷ, không trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi tư đồng). Ông D được hưởng: 2.395.402.778 đồng + 653.291.666 đồng = 3.048.694.444 đồng (Ba tỷ, không trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi tư đồng).
Qua xem xét thực tế cũng như tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy cách chia về vị trí thửa đất cho mỗi thừa kế của cấp sơ thẩm phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu sử dụng nên cần giữ nguyên như sau: - Chia cho ông Trương Tiến D diện tích 81.3m² tại thửa đất số 134 (có sơ đồ kèm theo), có giá trị là 81.3m² x 30.000.000đ = 2.439.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm ba mươi chín triệu đồng). - Chia cho ông Trương Tiến A (đã chết) có vợ là bà Đoàn Thị V và 04 con của ông Tiến A được hưởng diện tích 81.3m² đất tại thửa đất số 134 (có sơ đồ kèm theo), có giá trị là 81.3m² x 30.000.000đ = 2.439.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm ba mươi chín triệu đồng). - Chia cho bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Ngọc O và bà Trương Thị Thúy N1 thửa đất số 258 với tổng diện tích là 308.6m² (có sơ đồ kèm theo). + Chia cho bà Trương Thị Ngọc O: 101.6m 2 x 35.000.000 đồng = 3.556.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm năm mươi sáu triệu đồng). + Bà Trương Thị T1: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng). + Bà Trương Thị Kim T2: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng). + Bà Trương Thị Thúy N1: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng). So với kỷ phần thừa kế và công sức: + Bà V thiếu: 609.694.444 đồng (Sáu trăm linh chín triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng). + Ông D thiếu 609.694.444 đồng (Sáu trăm linh chín triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng). + Bà Trương Thị T1 thừa: 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng). + Bà Trương Thị Kim T2 thừa: 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng). + Bà Trương Thị Thúy N1 thừa: 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng). + Bà Trương Thị Ngọc O thừa 1.160.597.222 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng).
Vợ chồng ông Trương Tiến D được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 81.3m² tại thửa đất số 134. Bà Đoàn Thị V và 04 con của ông Tiến A được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 81.3m² đất tại thửa đất số 134. Bà Trương Thị Ngọc O được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 101.6m² tại thửa đất số 258.
- Buộc Bà Trương Thị Ngọc O phải thanh toán cho ông Trương Tiến D, phần công trình xây dựng nhà cấp 4 tại thửa đất số 258 số tiền là 39.726.750 đồng, thanh toán cho gia đình bà V phần xây dựng nhà cấp 4, số tiền là 40.209.750 đồng và thanh toán bằng tiền cho những thừa kế còn thiếu. Tổng cộng bà O phải thanh toán cho các đồng thừa kế như sau: + Thanh toán cho mẹ con bà Đoàn Thị V: 609.694.000 đồng tiền chênh lệch di sản + 40.209.750 đồng = 649.903.750 đồng (Sáu trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm linh ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng). + Thanh toán cho vợ chồng ông Trương Tiến D: 550.903.222 đồng tiền chênh lệch di sản + 39.726.750 đồng nhà cấp 4 = 590.629.972 đồng (Năm trăm chín mươi triệu, sáu trăm hai mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi hai đồng). Ông D còn thiếu 58.790.778 đồng (Năm mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng). - Buộc bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Thúy N1 mỗi người phải thanh toán cho ông Trương Tiến D số tiền 19.596.926 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng).
Từ phân tích trên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Tiến D, bà Đoàn Thị V và sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T theo hướng phân tích trên. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia căn nhà cấp 4 bỏ hoang không có người ở: 81,7m² x 1.725.000 đồng/1m² x 20% = 28.186.000 đồng (Hai mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Và các cây cối tại thửa 258, tờ bản đồ số 03: 01 cây hồng xiêm có giá 741.000 đồng; 01 cây Vối có giá 70.000 đồng; 01 cây me có giá 480.000 đồng. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị Thanh T3 và ông Trương Tiến D gộp tài sản chung vợ chồng vào di sản thừa kế ông Trương Tiến D được hưởng. Các ý kiến khác của các đương sự cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không có căn cứ nên không chấp nhận.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Cấp sơ thẩm không căn cứ vào quy định của pháp luật tùy tiện miễn án phí cho bà Trương Thị T1 và bà Trương Thị Kim T2 là trái pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm cần sửa như sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 634; 656; 659; 657 Bộ luật dân sự 1995; Điều khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015; Điều 167, Điều 202, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Tiến D và bà Đoàn Thị V.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ngọc O về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ổ và cụ Trương Văn C. Xác định diện tích đất ở 407m² (đã bán 120m²) nay còn lại là 308.6m² tại thửa đất 258, tờ bản đồ số 03, và diện tích 162.8m² tại thửa đất 134, tờ bản đồ số 03 tại thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội là di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị Ổ và cụ Trương Văn C có giá trị là 15.679.000.000 đồng (Mười lăm tỷ, sáu trăm bảy mươi chín triệu đồng).
- Xác định hàng thừa kế:
Hàng thứ nhất của cụ Hoàng Thị Ô và cụ Trương Văn C là 6 người con gồm các ông bà: Trương Tiến D, Trương Thị T1, Trương Thị Kim T2, Trương Thị Ngọc O, Trương Thị Thúy N1, Trương Tiến A ( ông Trương Tiến A chết năm 2021, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Tiến A là bà Đoàn Thị V, chị Trương Thu P, chị Trương Hải K, anh Trương Quốc V1, cháu Trương Thùy L).
- Chia di sản thừa kế như sau :
- - Xác định công sức của vợ chồng ông D = 1/4 kỷ phần thừa kế = 653.291.666 đồng và ông Tiến A, bà V = 1/4 kỷ phần thừa kế = 653.291.666 đồng.
- Di sản còn lại để chia là 15.679.000.000 đồng - 1.306.583.332 đồng = 14.372.416.668 đồng (Mười bốn tỷ, ba trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi tám đồng).
- Mỗi kỷ phần = 14.372.416.688 đồng : 6 = 2.395.402.778 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu, bốn trăm linh hai nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng)
- Bà V cùng các con được hưởng: 2.395.402.778 đồng + 653.291.666 đồng = 3.048.694.444 đồng (Ba tỷ, không trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi tư đồng).
- Ông D được hưởng: 2.395.402.778 đồng + 653.291.666 đồng = 3.048.694.444 đồng (Ba tỷ, không trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi tư đồng).
- * Chia bằng hiện vật:
- - Chia cho ông Trương Tiến D diện tích 81.3m² tại thửa đất số 134 (có sơ đồ kèm theo), có giá trị là 81.3m² x 30.000.000đ = 2.439.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm ba mươi chín triệu đồng).
- - Chia cho ông Trương Tiến A (đã chết) có vợ là bà Đoàn Thị V và 04 con của ông Tiến A được hưởng diện tích 81.3m² đất tại thửa đất số 134 (có sơ đồ kèm theo), có giá trị là 81.3m² x 30.000.000đ = 2.439.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm ba mươi chín triệu đồng).
- - Chia cho bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Ngọc O và bà Trương Thị Thúy N1 thửa đất số 258 với tổng diện tích là 308.6m² (có sơ đồ kèm theo).
- + Chia cho bà Trương Thị Ngọc O: 101.6m² x 35.000.000 đồng = 3.556.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm năm mươi sáu triệu đồng).
- + Bà Trương Thị T1: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng).
- + Bà Trương Thị Kim T2: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng).
- + Bà Trương Thị Thúy N1: 69m² x 35.000.000 đồng = 2.415.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười lăm triệu đồng).
- - So với kỷ phần thừa kế và công sức:
- + Bà V thiếu: 609.694.444 đồng (Sáu trăm linh chín triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
- + Ông D thiếu 609.694.444 đồng (Sáu trăm linh chín triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
- + Bà Trương Thị T1 thừa 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng).
- + Bà Trương Thị Kim T2 thừa 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng).
- + Bà Trương Thị Thúy N1 thừa 19.597.222 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng).
- + Bà Trương Thị Ngọc O thừa 1.160.597.222 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng).
- * Về sở hữu sử dụng tài sản trên đất:
Vợ chồng ông Trương Tiến D được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 81.3m² tại thửa đất số 134. Bà Đoàn Thị V và 04 con của ông Tiến A được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 81.3m² đất tại thửa đất số 134. Bà Trương Thị Ngọc O được sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 101.6m² tại thửa đất số 258.
- * Về nghĩa vụ thanh toán chênh lệch:
- - Buộc bà Trương Thị Ngọc O phải thanh toán cho ông Trương Tiến D, phần công trình xây dựng nhà cấp 4 tại thửa đất số 258 số tiền là 39.726.750 đồng, thanh toán cho gia đình bà V phần xây dựng nhà cấp 4, số tiền là 40.209.750 đồng và thanh toán bằng tiền cho những thừa kế còn thiếu.
- Tổng cộng bà O phải thanh toán cho các đồng thừa kế như sau:
- + Thanh toán cho mẹ con bà Đoàn Thị V: 609.694.000 đồng tiền chênh lệch di sản + 40.209.750 đồng = 649.903.750 đồng (Sáu trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm linh ba nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
- + Thanh toán cho vợ chồng ông Trương Tiến D: 550.903.222 đồng tiền chênh lệch di sản + 39.726.750 đồng nhà cấp 4 = 590.629.972 đồng (Năm trăm chín mươi triệu, sáu trăm hai mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi hai đồng).
- Ông D còn thiếu 58.790.778 đồng (Năm mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng).
- - Buộc bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị Thúy N1 mỗi người phải thanh toán cho ông Trương Tiến D số tiền 19.596.926 đồng (Mười chín triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia căn nhà cấp 4 bỏ hoang không có người ở: 81,7m² x 1.725.000 đồng/1m² x 20% = 28.186.000 đồng (Hai mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Và các cây cối tại thửa 258, tờ bản đồ số 03: 01 cây hồng xiêm có giá 741.000 đồng; 01 cây Vối có giá 70.000 đồng; 01 cây me có giá 480.000 đồng.
- Ghi nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị Thanh T3 và ông Trương Tiến D gộp tài sản chung vợ chồng vào di sản thừa kế ông Trương Tiến D được hưởng.
- Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất và để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm:
- + Ông Trương Tiến D được miễn án phí theo quy định.
- + Bà Trương Thị Ngọc O phải chịu 81.506.785 đồng (T7 mươi mốt triệu, năm trăm linh sáu nghìn, bảy trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi số tiền tạm ứng án phí là 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) bà O đã nộp theo biên lai thu số 0006336 ngày 29/11/2019. Bà O còn phải nộp 58.506.785 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm linh sáu nghìn, bảy trăm tám mươi lăm đồng).
- + Bà Trương Thị Kim T2, bà Trương Thị T1, bà Trương Thị Thúy N1 mỗi người phải chịu 79.908.055 đồng (Bảy mươi chín triệu, chín trăm linh tám nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Đoàn Thị V và các con (Trương Thu P, Trương Hải K, Trương Quốc V1 và Trương Thùy L) phải chịu 46.486.944 đồng (Bốn mươi sáu triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn, chín trăm bốn mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Hoàn trả cho ông Trương Tiến D số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0063779 ngày 17/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.
- + Hoàn trả cho bà Đoàn Thị V số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0063806 ngày 03/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 130/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 130/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Trương Ngọc O và bị đơn là ông Trương Tiến D
