TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 130/2024/KDTM-PT Ngày: 22-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán:Bà Lưu Thị Đoan Trang
Bà Phùng Thị Như Mai
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Yến – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 22-5-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLPT-KDTM ngày 23-01-2024 về tranh chấp “hợp đồng hợp tác kinh doanh”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 của Toà án nhân dân Quận 12 bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1232/2024/QĐ-PT ngày 11-3-2024, Quyết định hoãn phiên toà số 4401/2024/QĐ-PT ngày 10-4-2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 6437/2024/QĐ-PT ngày 09-5-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Lưu Thành Đ, sinh năm 1994
Địa chỉ: A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH T2.
Địa chỉ: D N, Khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986;
địa chỉ: P tòa nhà C, Vinhomes C, Số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo uỷ quyền (vắng mặt phiên toà ngày 22-5-2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1986
Địa chỉ: D N, Khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bà Đinh Thị V, sinh năm 1986
Địa chỉ: 3, Khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; Địa chỉ: P tòa nhà C, Vinhomes C. Số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt phiên toà ngày 22-5-2024)
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH T2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V.
Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-02-2021, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn ông Bùi Lưu Thành Đ trình bày:
Khoảng tháng 6/2018 ông Đ và bà Đinh Thị V đại diện cho Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt là Công ty T2) hợp tác làm ăn chung và chia đôi lợi nhuận sản phẩm ly giấy, ly nhựa, túi giấy, túi nhựa,...theo Biên bản thỏa thuận và cam kết năm 2019 (không ghi rõ ngày, tháng) thời hạn đến tháng 3/2020; bên nào vi phạm nội dung cam kết sẽ phải bồi thường 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Sau đó, bà V tự làm việc và thu lợi nhuận riêng với các khách hàng của ông Đ mà không báo ông Đ biết. Cụ thể: Ngày 06-7-2020, bị đơn nhận chuyển tiền thanh toán ly giấy 17.802.590 (mười bảy triệu, tám trăm lẻ hai ngàn, năm trăm chín mươi) đồng từ Công ty TNHH Al Naboodah Quốc tế Thành phố H là khách hàng cũ của ông Đ. Ngoài ra bà V còn kê khống số tiền mua hàng thay vì đơn giá 650 đồng/cái thì kê lên 760 đồng/cái với số lượng 200.000 cái từ Công ty TNHH A để chiếm lợi nhuận riêng gây thiệt hại cho ông Đ hơn 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Ngày 03-8-2020, bà V thông báo dừng hợp tác với lý do hết vốn và sau đó gửi cho nhiều khách hàng về việc dừng hợp tác gây thiệt hại cho ông Đ. Quá trình hợp tác, ông Đ chỉ nhận được từ bà V hơn 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng và lợi nhuận năm 2019 ông Đ nhận 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Như vậy bà V đã vi phạm bản cam kết năm 2019. Ngày 09-6-2022, ông Đ bổ sung đơn kiện, ngày 01-3-2023 ông Đ rút yêu cầu bồi thường đầu tư khuôn trục, website với số tiền 61.620.000 đồng và ngày 15-6-2023, ông Đ rút yêu cầu bồi thường danh dự, nhân phẩm uy tín. Nay ông Đ yêu cầu bị đơn thanh toán như sau:
- Bồi thường 500.000.000 đồng do vi phạm cam kết;
- Số tiền lợi nhuận chưa chia năm 2020 và phát sinh tiếp theo là 429.392.036 đồng;
- Bồi thường thiệt hại do ông Đ mất mối làm ăn, mất việc 75.670.400 đồng;
- Tính lãi số tiền chưa thanh toán trên tạm tính từ ngày 03-10-2020 đến ngày 03-7-2023 là: 33 tháng x (500.000.000 đồng + 429.392.036 đồng) x 1%/tháng = 306.699.371 đồng.
Tổng cộng, ông Đ yêu cầu bị đơn thanh toán 1.311.761.807 (một tỷ, ba trăm mười một triệu, bảy trăm sáu mươi mốt ngàn, tám trăm lẻ bảy) đồng.
Tại phiên tòa, ông Đ rút yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất mối làm ăn, mất việc là 75.670.400 đồng.
Tại bản khai ngày 20-6-2022, ông Trương Tất T1 đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Bị đơn phủ nhận việc hợp tác với ông Đ với tư cách pháp nhân vào năm 2019 nêu trên. Giấy ủy quyền tháng 02/2017 bị đơn không ủy quyền cho bà V nhân danh bị đơn ký bảo lãnh hay ký hợp đồng hay thỏa thuận gì với bên thứ ba. Toàn bộ các đơn hàng bà V đưa về trên cơ sở thông tin ông Đ cung cấp, công ty không đàm phán trực tiếp với khách hàng.
Công ty có yêu cầu ông Đ thanh toán tiền hàng lưu kho tại Siêu thị L1 nhưng đến nay không làm văn bản, không trình bày gì thêm cho Tòa án biết về việc này và cũng không yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V có bà Nguyễn Thị H đại diện theo ủy quyền trình bày tại bản khai ngày 20-6-2022: Giữa bà V và ông Đ có hợp tác làm ăn với nhau vào năm 2019 theo bản cam kết đã nêu. Thời gian đầu khá suôn sẻ nhưng sau đó đến đơn hàng của siêu thị L1 gặp khó khăn do số lượng quá lớn, vốn không đủ làm nhưng ông Đ vẫn cứ nhận đơn hàng, dẫn đến phát sinh tiền lưu kho cùng thời điểm dịch bệnh covid-19 chưa giao hàng được. Bà V đã dùng toàn bộ tiền lợi nhuận từ những đơn hàng trước đó của hai bên để thanh toán một phần nhưng vẫn không đủ để trả cho Công ty T2. Ông Đ muốn đổ hết trách nhiệm cho bà V và thông báo chấm dứt thỏa thuận trong khi công nợ đơn hàng L vẫn chưa giải quyết xong. Bà V không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ, tại phiên toà bà V bổ sung yêu cầu buộc ông Đ phải xử lý xong nợ đơn hàng Lotte khoảng 889.928.140 đồng thì bà V mới chi trả lợi nhuận cho ông Đ nếu còn.
Tuy nhiên, đến nay bà V không giao nộp, tài liệu chứng cứ gì về đơn hàng Lotte này và cũng không có ý kiến gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 của Toà án nhân dân Quận 12 đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Buộc Công ty TNHH T2 và bà Đinh Thị V liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Bùi Lưu Thành Đ số tiền 1.236.091.407 (một tỷ, hai trăm ba mươi sáu triệu, không trăm chín mươi mốt ngàn, bốn trăm lẻ bảy) (trong đó gồm phần lãi tạm tính đã nêu trên tính từ ngày 03-10-2020 đến ngày 03-7-2023), tiếp tục tính lãi kể từ ngày 04-7-2023 đến khi trả dứt nợ.
Đình chỉ yêu cầu của ông Đ về bồi thường thiệt hại do mất mối làm ăn, mất việc với số tiền 75.670.400 đồng do ông Đ rút yêu cầu. Đình chỉ yêu cầu của ông Đ về bồi thường chi phí đầu tư khuôn trục, website với số tiền 61.620.000 đồng do ông Đ rút yêu cầu.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn và bà Vi c thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì bị đơn và bà V còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 09-10-2023, Toà án nhân dân Quận 12 nhận được đơn kháng cáo của Công ty T2 và bà Đinh Thị V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Công ty T2 và bà Đinh Thị V.
Ngày 23-10-2023, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-KDTM kháng nghị toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 của Toà án nhân dân Quận 12, đề nghị hủy bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu bồi thường số tiền 22.110.000 đồng do bà Đinh Thị V tự ý kê khống đơn hàng Neca. Từ đó, nguyên đơn yêu cầu bồi thường 500.000.000 đồng; lợi nhuận năm 2020 là 407.282.036 đồng (429.3923.036 đồng – 22.110.000 đồng); tiền lãi 299.403.071 đồng, tổng cộng là 1.206.685.107 đồng.
Bị đơn Công ty T2 và bà Đinh Thị V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bán án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng nghị:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là bản phô tô, không được bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận; tại cấp phúc thẩm các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới; xét thấy cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu này để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là chưa phù hợp quy định tại khoản 2, 3 Điều 92 và Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán lợi nhuận, bồi thường thiệt hại, tuy nhiên cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn và bà Đinh Thị V liên đới chịu trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn, tiền án phí là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, tại phiên hoà giải ngày 10-7-2023 và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bổ sung yêu cầu buộc bị đơn trả lãi tạm tính từ ngày 03-10-2020 đến ngày 03-7-2023, lãi suất 1%/ tháng, yêu cầu này vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và chưa được Toà án nhân dân Quận 12 thụ lý theo quy định nhưng cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là không phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông Đ xin rút yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất mối làm ăn, mất việc là 75.670.400 đồng. Tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 (bản án phát hành, bút lục 489 đến 491), Toà án nhân dân Quận 12 không tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu này của nguyên đơn là chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi nhận được quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Toà án nhân dân Quận 12 mới tiến hành sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự thì sau khi tuyên án xong, Thẩm phán không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Tuy nhiên, tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 71/2023/QĐ-SCBSBA ngày 24-10-2023, Toà án nhân dân Quận 12 không sửa lỗi về chính tả, các số liệu mà lại tuyên thêm phần các nội dung còn thiếu là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại Biên bản thỏa thuận và cam kết năm 2019 (không ghi ngày tháng), các bên không có thỏa thuận lãi phạt chậm thanh toán. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm, Toà án nhân dân Quận 12 lại tuyên: “tiếp tục tính lãi kể từ ngày 04-7-2023 đến khi trả dứt nợ” và “Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn và bà Vi c thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì bị đơn và bà V còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015” là mâu thuẫn và không phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Xét thấy các vi phạm nêu trên của Toà án nhân dân Quận 12 là rất nghiêm trọng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 và kháng cáo của Công ty TNHH T2, bà Đinh Thị V là có căn cứ nên có sơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, kháng cáo của Công ty TNHH T2 và bà Đinh Thị V, hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Quận 12 giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên toà, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không rút kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không rút kháng nghị nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phân chia lợi nhuận, bồi thường thiệt hại do vi phạm thoả thuận hợp tác kinh doanh. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa hai tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; bị đơn có trụ sở tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên Toà án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Người đại diện hợp pháp của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V có mặt tại phiên toà sơ thẩm ngày 29-9-2023, Đơn kháng cáo của Công ty T2 và bà Đinh Thị V gửi đến Toà án cấp sơ thẩm ngày 09-10-2023; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 không tham gia phiên toà sơ thẩm, ngày 23-10-2023 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 có Quyết định kháng nghị. Xét thấy, kháng cáo kháng nghị trong thời hạn luật định và hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường 500.000.000 đồng do bị đơn vi phạm cam kết, tự liên hệ với các khách hàng cũ của nguyên đơn, thu lợi nhuận riêng mà không thông báo cho nguyên đơn biết. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là bản phô tô màn hình tin nhắn zalo giữa bà V và các bên liên quan, các tài liệu này không được bị đơn, bà V thừa nhận. Cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ thông tin nguyên đơn cung cấp để xác định bị đơn, người liên quan là bà V có vi phạm cam kết hay không mà căn cứ vào các tài liệu này để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là chưa phù hợp quy định tại Điều 92, Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu bị đơn chia lợi nhuận tổng cộng 429.392.036 đồng, cấp sơ thẩm không phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật làm căn cứ để chấp nhận yêu cầu chia lợi nhuận của nguyên đơn là không đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hơn nữa, theo trình bày của các đương sự còn một số công nợ của các công ty khác, hàng tồn, phí lưu kho... tại Lotte nhưng chưa được cấp sơ thẩm xác minh làm rõ để cân đối chi phí trước khi chia lợi nhuận.
[4] Về yêu cầu tính lãi, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xác nhận trong các đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi. Nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi tại biên bản hoà giải ngày 10-7-2023 (bút lục số 471). Như vậy, cấp sơ thẩm chưa thực hiện thủ tục thụ lý khởi kiện bổ sung yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với bị đơn. Đến ngày 22-8-2-23, Toà án nhân dân Quận 12 có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên toà ngày 29-9-2023, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn, bà V chịu tiền lãi là 306.699.371 đồng là vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xác nhận trong các đơn khởi kiện, bổ sung đơn khởi kiện, tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn Công ty T2 bồi thường 500.000.000 đồng, phân chia lợi nhuận 2020, tiền lãi; không yêu cầu bà V liên đới với bị đơn chịu trách nhiệm. Cấp sơ thẩm cũng nhận định bà V ký thoả thuận hợp tác nhân danh pháp nhân là Công ty T2 nhưng bản án tuyên “chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn Công ty TNHH T2 và bà Đinh Thị V liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Bùi Lưu Thành Đ số tiền 1.236.091.407 đồng...” là vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.
[6] Ngoài ra, Toà án nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 71/2023/QĐ-SCBSBA ngày 24-10-2023 không đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc tuyên lãi chậm trả tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không phù hợp quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm như đại diện Viện Kiểm sát đã nêu tại phiên toà phúc thẩm.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị V và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 là có căn cứ; do đó cần huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Quận 12 giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[8] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị huỷ nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH T2 và bà Đinh Thị V; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 29-9-2023 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH T2 và bà Đinh Thị V không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH T2 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0030737 ngày 12-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả cho bà Đinh Thị V số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0030788 ngày 16-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận 12; - Cục THADS TP.HCM - Chi cục THADS Quận 12; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 130/2024/KDTM-PT ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Số bản án: 130/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Quận 12
