|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂN K THÀNH PHỐ C Bản án số: 130/2024/HS-ST Ngày: 16/09/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc B
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị N
- Bà Trần Thị D
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị K - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc T- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2024/HSST ngày 29 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 757/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1993, tại C;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố C;
Nghề nghiệp: làm thuê;
Trình độ học vấn: 12/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Hữu L và bà Nguyễn Thị Tuyết N;
Bị cáo có 1 người em sinh năm: 1997;
Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Chưa;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/05/2024. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận N.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Mai Văn H, sinh năm: 1975 (vắng).
- Ông Lê Thanh P, sinh năm: 1983 (vắng).
Địa chỉ: F khu vực T, phường T, quận C, thành phố C.
Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Duy K (vắng).
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1969 (vắng).
Địa chỉ: ấp A xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ liên hệ: F hẻm C khu V, phường A, quận N, thành phố C.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/12/2018, Nguyễn Hữu T có đăng ký kinh doanh Công ty TNHH T4, có trụ sở tại số B C, phường T, quận N, thành phố C do Nguyễn Hữu T làm giám đốc, tuy nhiên sau khi đăng ký kinh doanh bị cáo Nguyễn Hữu T không đóng thuế và không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký từ ngày 31/10/2019. Tuy nhiên, sau khi công ty ngừng hoạt động thì T vẫn lấy danh nghĩa giám đốc để nhận tổ chức tour du lịch nhằm chiếm đoạt tiền của người khác.
Vào ngày 21/4/2023 Nguyễn Duy K được người quen giới thiệu làm quen với Nguyễn Hữu T, T giới thiệu với K bản thân là Giám đốc, sau đó K xin đi theo các tour du lịch do T tổ chức để học kinh nghiệm. Thời điểm này, có bà Đoàn Thanh T1 liên hệ T đặt tour du lịch đi T thì T đồng ý. Đến ngày 28/4/2023, T liên hệ ông Mai Văn H là người kinh doanh dịch vụ vận chuyển hành khách để ký hợp đồng thuê xe ô tô 45 chỗ để chở khách đi du lịch từ ngày 28/4/2023- ngày 02/5/2023 với giá 35.000.000 đồng, sau đó ông H phân công ông Nguyễn Hoài H1 làm tài xế lái xe giường nằm biển số 95F-000.95 để chở T, K cùng đoàn 36 khách, chi phí tour thống nhất là 81.000.000 đồng (bà T1 đã ứng cho T 74.000.000 đồng, còn 7.000.000 đồng Tình giảm giá cho chị T1), quá trình đi tour thì T có ứng trước 12.000.000 đồng để trả tiền đổ dầu xe ô tô chở khách. Đến 03/5/2023 ông H1 chở đoàn về đến C hoàn thành tour, sau khi trả khách thì anh H1 chở T và K về nhà trọ của T tại số: A Đ, phường A, quận B, thành phố C và yêu cầu T trả số tiền còn lại của tour là 23.000.000 đồng. T đã gửi cho ông H1 ảnh chụp màn hình giao dịch chuyển tiền thành công nên ông H1 chuyển ảnh này cho ông H và chạy xe về, sau đó ông H kiểm tra tài khoản thì phát hiện tiền chưa vào tài khoản và ông H xem lại ảnh tin nhắn màn hình chuyển tiền nghi ngờ là giả vì thông tin không đúng nên kêu H1 quay lại để hẹn T và K ra quán C ở phường T, quận N, C để nói chuyện với ông H. Khi 02 bên gặp nhau, T nói lý do là giao dịch ngân hàng bị kẹt nên kêu K để lại xe mô tô Yamaha Exciter 95B1-737.24 cho ông H để làm tin và hẹn chiều ngày 03/5 hoặc sáng ngày 04/5/2023 sẽ trả đủ tiền xe cho ông H nên K đồng ý giao xe mô tô cho ông H rồi tất cả đi về. Sau đó, T tắt điện thoại và bỏ trốn nên ông K đến công an phường T trình báo.
Trong cùng thời gian trên, bị cáo Nguyễn Hữu T thực hiện thêm 01 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Lê Minh P1 - làm nghề hướng dẫn viên du lịch. Cụ thể: Ngày 16/4/2023, T liên hệ gặp ông P1 và đề nghị thuê ông P1 làm hướng dẫn viên cho tour du lịch P-Miền T do T tổ chức cho gia đình bà Đặng Ngọc T2 từ ngày 30/4/2023- ngày 06/5/2023 với tiền công là 4.500.000 đồng ông P1 đồng ý. Tiền tour là 110.250.000 đồng, bà T2 đã chuyển ứng trước cho T 57.000.000 đồng. Quá trình đi tour, bà T2 đưa trực tiếp cho P1 số tiền 44.500.000 đồng tiền tour, Tình yêu cầu P1 chuyển cho T 25.000.000 đồng, còn lại T kêu P1 giữ lại để chi tiêu dọc đường phục vụ đoàn khách. Tuy nhiên, quá trình dẫn đoàn đi du lịch thì ông P1 phát hiện Tình chưa thanh toán tiền khách sạn nên ông P1 dùng tiền cá nhân để ứng thanh toán. Sau khi chi hết số tiền 19.500.000 đồng thì ông P1 phải chi thêm tiền cá nhân là 14.000.000 đồng để chi trả tiền khách sạn và chi phí khác cho đoàn. Sau đó ông P1 về C tìm T thì T bỏ trốn, ông P1 không liên lạc được với bị cáo T và T không thanh toán tiền công dẫn đoàn 4.500.000 đồng cho ông P1 nên ông Phương T3 báo Công an phường T làm rõ.
Quá trình xác minh, Nguyễn Hữu T bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với Nguyễn Hữu T. Đến ngày 27/3/2024, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N trình diện.
Như vậy, số tiền bị cáo Nguyễn Hữu T đã chiếm đoạt của ông Mai Văn H 23.000.000 đồng và của ông Lê Minh P1 18.500.000 đồng. Tổng cộng: 41.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận hành vi giả danh Giám đốc công ty TNHH T4 để nhận tổ chức tour du lịch nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của người khác rồi bỏ trốn.
Trách nhiệm dân sự: ông Mai Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường 23.000.000 đồng; ông Lê Minh P1 yêu cầu bị cáo bồi thường 17.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường xong. Ngoài ra, ông H đã giao trả lại xe mô tô 95B1-737.24 cho ông Nguyễn Duy K. Ông H, ông P1, ông K không có yêu cầu gì khác.
Về nhân thân: Bị cáo không tiền án, tiền sự. Thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi.
Tại bản cáo trạng số: 159/CT –VKSNK ngày 20 tháng 08 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân quận K truy tố:
- + Bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã yêu cầu gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:
Truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, tin nhắn chuyển tiền giả cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.
Bị cáo Nguyễn Hữu T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực, nhưng lại có hành vi gian dối giả danh giám đốc Công ty TNHH T4, làm giả chứng từ chuyển khoản ngân hàng để chiếm đoạt tài sản của hai bị hại với tổng số tiền 41.500.000đ (bốn mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ Luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo đã yêu cầu gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo đã thực hiện 02 lần hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại nên bị cáo phải chịu áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận K đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Nguyễn Thị Tuyết N đã bồi thường cho ông Mai Văn H số tiền 23.000.000 đồng; bồi thường cho ông Lê Minh P1 số tiền 17.000.000 đồng, ông H đã giao trả lại xe mô tô 95B1-737.24 cho ông Nguyễn Duy K. Ông H, ông P1, ông K đã nhận tiền bồi thường và không có ý kiến gì thêm. Bà Nguyễn Thị Tuyết N không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường cho các bị hại nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào theo Khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày 04/05/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
|
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Thị Ngọc B |
Bản án số 130/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂN K, THÀNH PHỐ C về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 130/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂN K, THÀNH PHỐ C
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
